vanban.org

Bản án 24/2022/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Hòa Bình Tuyên án 16/05/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 16/05/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 35/2021/HS-ST ngày 29/12/2021 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Hòa Bình.

Xử phạt bị cáo Bùi Văn M 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 tháng, kể từ ngày tuyên án phúc thẩm, về tội Tàng trữ trái phép vật liệu nổ. Giao bị cáo Bùi Văn M cho Ủy ban nhân dân xã Q, huyện L, tỉnh Hòa Bình giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp Bùi Văn M t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Văn M - phạm tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ (điều 305 Luật sửa đổi, bổ sung m…"
  • Tòa quyết gì? Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 35/2021/HS-ST ngày 29/12/2021 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Hòa Bình.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 305 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HÒA BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2022/HS-PT
Ngày: 16-5-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÒA BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Hùng.

Các Thẩm phán:

Bà Bạch Thị Hồng Hoa.

Ông Nguyễn Thanh Tùng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Thương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hòa Bình tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Hường - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 5 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 12/TLPT-HS ngày 11 tháng 02 năm 2022 đối với bị cáo Bùi Văn M do có kháng cáo của bị cáo Bùi Văn M đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 35/2021/HS-ST ngày 29 tháng 12 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Hòa Bình.

- Bị cáo có kháng cáo, không bị kháng cáo, không bị kháng nghị:

Bùi Văn M, sinh ngày 03 tháng 9 năm 1981 tại L, Hòa Bình.

Nơi cư trú: Xóm Y, xã Q, huyện L, tỉnh Hòa Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 2/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn D (đã chết) và bà Bùi Thị L; có vợ là Bùi Thị Q và 04 con (lớn nhất sinh năm 2005, nhỏ nhất sinh năm 2017); tiền án, tiền sự: Không; bị bắt, tạm giữ từ ngày 22/7/2021 đến ngày 31/7/2021 thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; bị bắt, tạm giam lại ngày 20/12/2021 đến nay; có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị Thu T, Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Hòa Bình; có mặt.

- Ngoài ra còn 01 bị cáo khác không có kháng cáo, không bị kháng nghị Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng đầu tháng 7/2021, Bùi Văn M trên đường đi làm về từ Công ty TNHH T thuộc xóm Đ, xã L, huyện T, tỉnh Hòa Bình về xóm Y, xã Q, huyện L, tỉnh Hòa Bình thì thấy ở ven đường ngoài khu vực khai thác than của Công ty có một túi nilon màu hồng bên trong có hai thỏi thuốc nổ còn nguyên vẹn, một thỏi thuốc nổ dài khoảng 04cm, 09 kíp nổ điện vỏ nhôm cỡ số 8. Quan sát xung quanh không có người nên M đã đem số thuốc nổ trên về dấu trên gác bếp, mục đích là để chữa bệnh ngoài da và đánh cá. Khoảng 11 giờ ngày 21/7/2021, M đến nhà Bùi Văn M1 rủ M1 đi đánh cá, M1 đồng ý sau đó M về nhà lấy thuốc nổ và kíp nổ để đi đánh cá. M và M1 đã dùng tổng cộng là ba đoạn thuốc nổ, mỗi đoạn dài khoảng 03cm được cắt ra từ một gói thuốc nổ còn nguyên vẹn và 03 kíp nổ điện đi đánh cá tại suối K thuộc xóm T, xã G và xóm S, xã Q, huyện T, tỉnh Hòa Bình. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, M và M1 đem số cá vừa đánh được về nhà M ăn cơm. Trong lúc ăn cơm, M1 hỏi xin M một ít thuốc nổ để đánh cá M đồng ý và bảo M1 "còn một ít, muốn thì lấy". Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, M lấy túi đựng thuốc nổ và kíp nổ giấu ở gác bếp xuống, dùng một ít thuốc nổ bôi lên da để trị hắc lào, sau đó cất lại vị trí cũ rồi đi ngủ. M1 thấy M đã ngủ và do trước đó M đã đồng ý nên M1 lấy túi nilon chứa thuốc nổ trên gác bếp xuống, lấy một thỏi thuốc nổ và 02 kíp nổ giấu vào túi nilon màu xanh để mang về đánh cá, số thuốc còn lại M1 cất lên gác bếp, sau đó đi về nhà mình. Khoảng 21 giờ cùng ngày, M1 đem túi thuốc nổ và kíp nổ giấu bên trong áo rồi đi bộ đến nhà anh Bùi Văn D cùng xóm mục đích rủ anh D đi nổ mìn đánh cá. Đi đến nhà anh D, M1 và D rủ nhau uống rượu, anh D lấy xoài và một con dao cho M1 gọt xoài. Sau khi gọt xoài, M1 dùng tay trái đưa vào bên trong áo định lấy thuốc nổ và kíp nổ thì anh Bùi Văn T (anh trai D) nhìn thấy, nghi ngờ M1 mang ma túy đến cho D nên anh T vào nhà và hỏi "chúng mày làm gì đấy" rồi hô hoán các anh em ở gần nhà D tới. Sau đó lần lượt có các anh Bùi Văn D1, Bùi Văn T, Bùi Văn K đến. Anh D1 thấy tay M1 còn để trong áo liền giật tay M1 ra làm túi thuốc nổ và kíp nổ rơi xuống đất. Thấy vậy, anh K báo cơ quan Công an huyện T đến lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ 200g thuốc nổ và hai kíp nổ của M1.

Khoảng 05 giờ ngày 22/7/2021, M được vợ là Bùi Thị Q gọi điện nói về việc M1 bị cơ quan công an bắt. M lo sợ nên đã lấy túi thuốc nổ và kíp nổ giấu trên gác bếp xuống giấu ở dưới gầm tủ trong nhà. Cùng ngày, cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện T đã ra Lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở của Bùi Văn M, phát hiện, thu giữ 140g thuốc nổ và 04 kíp nổ dưới gầm tủ.

Tại Bản kết luận giám định số 6199/C09-P2 ngày 27 tháng 7 năm 2021 của Viện khoa học hình sự Bộ Công an kết luận: "Mẫu vật có ký hiệu T1 và T2 gửi đến giám định đều là thuốc nổ công nghiệp Amônít. Thuốc nổ công nghiệp Amônít thường dùng trong khai khoáng, mở đường… Khối lượng mẫu T1 là 200g (hai trăm gam) và mẫu T2 là 140g (một trăm bốn mươi gam).

Mẫu vật có ký kiệu K1, K2, K3, K4, K5 và K6 gửi đến giám định đều là kíp nổ điện vỏ nhôm cỡ số 8. Kíp nổ có tác dụng kích nổ thuốc nổ.

Tất cả số thuốc nổ công nghiệp Amônít và kíp nổ điện vỏ nhôm cỡ số 8 trên đều còn sử dụng được."

Quá trình điều tra, xác minh tại Phòng cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội Công an tỉnh Hòa Bình và Sở Công thương thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Hòa Bình xác định: Chỉ cấp giấy phép sử dụng vật liệu nổ công nghiệp cho doanh nghiệp, không cấp giấy phé sử dụng vật liệu nổ công nghiệp cho cá nhân.

Bản án hình sự sơ thẩm số 35/2021/HS-ST ngày 29 tháng 12 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Hòa Bình quyết định: Áp dụng khoản 1 Điều 305; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; Điều 46; Điều 47 của Bộ luật hình sự. Điều 106, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Xử phạt: Bùi Văn M 15 (mười năm) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép vật liệu nổ, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 20/12/2021, được trừ đi số ngày tạm giữ từ 22/7/2021 đến 31/7/2021.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm quyết định về xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo, quyết định tội danh và hình phạt đối với một bị cáo khác không có kháng cáo, không bị kháng cáo, không bị kháng nghị.

Ngày 06/01/2022, bị cáo Bùi Văn M kháng cáo xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Bùi Văn M giữ nguyên nội dung kháng cáo. Bị cáo trình bày gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo, có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, là lao động chính trong gia đình có 04 con nhỏ, vẫn đang trong độ tuổi đi học. Có chú ruột là thương binh, trình độ văn hóa thấp, nhận thức pháp luật hạn chế.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hòa Bình phát biểu ý kiến: Nêu tóm tắt hành vi phạm tội của bị cáo, nhận định Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Hòa Bình xử phạt Bùi Văn M 15 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép vật liệu nổ theo khoản 1 Điều 305 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật. Các tình tiết giảm nhẹ bị cáo trình bày đều đã được cấp sơ thẩm áp dụng. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Bùi Văn M, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 35/2021/HS-ST ngày 29/12/2021 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Hòa Bình.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ và quá trình thẩm tra, tranh tụng và tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, bị hại, người làm chứng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

Về hành vi, quyết định của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T; Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Đơn kháng cáo của bị cáo trong thời hạn luật định nên hợp lệ, được xem xét, giải quyết theo trình tự phúc thẩm

Về nội dung:

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Bùi Văn M đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, cụ thể: Tháng 7/2021, Bùi Văn M nhặt được một túi nilon trong đó chứa 02 thỏi thuốc nổ còn nguyên vẹn. M mang về nhà giấu đi với mục đích dùng để chữa bệnh ngoài da và đánh cá. Ngày 21/7/2021, Bùi Văn M cùng Bùi Văn M1 đi đánh cá và sử dụng hết 03 đoạn thuốc nổ và 03 kíp nổ điện. Sau đó, M1 xin M một thỏi thuốc nổ và 02 kíp nổ để dùng đi đánh cá, do bị mọi người phát hiện và sau đó bị cơ quan công an lập biên bản thu giữ 200g thuốc nổ công nghiệp Amônít và hai kíp nổ điện trên người M1 và khám xét khẩn cấp chỗ ở của Bùi Văn M, phát hiện và thu giữ 140g thuốc nổ công nghiệp Amônít và sáu kíp nổ điện.

Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với kết luận giám định, tang vật thu giữ cùng các tài liệu, chứng cứ cơ quan điều tra đã thu thập, có trong hồ sơ vụ án. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Bùi Văn M về tội Tàng trữ trái phép vật liệu nổ theo khoản 1 Điều 305 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo Bùi Văn M, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách quản lý, sử dụng vật liệu nổ của Nhà nước, gây nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe của người khác, ảnh hưởng cấu đến tình hình trật tự, an toàn xã hội.

Xét thấy, mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng là tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo. Tuy nhiên xét hoàn cảnh gia đình bị cáo là đặc biệt khó khăn, hộ nghèo, bị cáo là lao động chính trong gia đình, hiện đang nuôi bốn con nhỏ, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, luôn có thái độ thành khẩn, ăn năn hối cải, là người dân tộc thiểu số, trình độ văn hóa thấp 2/12, do nhận thức và hiểu biết pháp luật hạn chế, phạm tội do bột phát và nhất thời, bị cáo có chú ruột là thương binh. Căn cứ theo Nghị quyết số 02/NQHĐTP ngày 15/5/2018 vủa HĐTP-TANDTC, việc cho bị cáo hưởng án treo thể hiện tính nhân đạo của pháp luật nước ta, đồng thời cũng không làm ảnh hưởng đến công tác đấu tranh phòng chống tội phạm. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo Bùi Văn M.

Về án phí: Do kháng cáo của bị cáo Bùi Văn M được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị tiếp tục có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Bùi Văn Mì.

Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 35/2021/HS-ST ngày 29/12/2021 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Hòa Bình. Cụ thể: Giữ nguyên mức hình phạt và cải biện pháp chấp hành hình phạt.

Áp dụng khoản 1 Điều 305; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65; Điều 46; Điều 47 của Bộ luật hình sự. Điều 106, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Xử phạt bị cáo Bùi Văn M 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 tháng, kể từ ngày tuyên án phúc thẩm, về tội Tàng trữ trái phép vật liệu nổ.

Giao bị cáo Bùi Văn M cho Ủy ban nhân dân xã Q, huyện L, tỉnh Hòa Bình giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp Bùi Văn M thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách nếu bị cáo Bùi Văn M cố ý vi phạm nghĩa vụ từ hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo theo quy định tại khoản 5 điều 65 Bộ luật hình sự.

2. Bị cáo Bùi Văn M không phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị tiếp tục có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật từ ngày tuyên án (16/5/2022).

Cỡ chữ