vanban.org

Bản án 24/2022/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Bến Tre Tuyên án 22/02/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 22/02/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm về xử lý vật chứng, án phí không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án. Vụ GĐKT I - Tòa án nhân dân tối cao (1b); Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Chí Kh - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Các quyết định khác của bản án sơ thẩm về xử lý vật chứng, án phí không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2022/HS-PT
Ngày: 22-02-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Quang Sơn

Các Thẩm phán: Ông Phạm Văn Tỉnh; Bà Nguyễn Thị Ngọc Hương

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Như Sương – Thư ký Tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Thảo – Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 02 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 108/2021/TLPT-HS ngày 13 tháng 12 năm 2021 đối với bị cáo Nguyễn Chí Kh do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 74/2021/HS-ST ngày 04 tháng 11 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Chí Kh , sinh năm 1999 tại tỉnh Bến Tre; nơi cư trú: số xB, Khu phố x, Phường x, thành phố B, tỉnh Bến Tre; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông (không rõ) và bà Thạch Bích H; tiền án, tiền sự: không; bị cáo tại ngoại, có mặt;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ 45 phút ngày 21/05/2021, lực lượng Công an phường P , thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre tuần tra đến khu vực tổ xB, khu phố x, phường P , thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre thì phát hiện Nguyễn Chí Kh đang điều khiển xe mô tô biển số xxBx-xxx.xx có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu dừng xe để kiểm tra. Qua kiểm tra, lực lượng Công an phát hiện ở baga phía trước xe có 01 bóp da màu đen, bên trong có 01 túi nylon hàn kín ba phía, phía còn lại có rãnh khép và vạch ngang màu đỏ, chứa nhiều tinh thể màu trắng. Nguyễn Chí Kh khai nhận là ma túy đá của Kh cất giấu để sử dụng nên lực lượng Công an tiến hành lập biên bản sự việc, thu giữ tang vật. Sau đó, bàn giao cho lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy – Công an thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre giải quyết theo thẩm quyền.

Vật chứng thu giữ: 01 bóp da màu đen; 01 túi nylon hàn kín 03 phía, phía còn lại có rãnh khép và vạch ngang màu đỏ, bên trong có chứa tinh thể màu trắng nghi là ma túy (Sau khi thu giữ được niêm phong trong phong bì có các chữ ký, ghi tên: Đàm Văn Nhàn, Phan Thành Nhung, Nguyễn Chí Kh , Nguyễn Hải Đăng Khoa, Nguyễn Văn Phúc và hình dấu tròn màu đỏ của Công an phường P , thành phố Bến Tre); 01 ống nhựa màu trắng sọc tím cắt quác một đầu; 01 ống nhựa màu tím sọc trắng cắt quác một đầu, đầu còn lại hàn kín; 01 hộp quẹt; 01 kéo kim loại; 01 xe mô tô biển số xxBx-xxx.xx đã qua sử dụng;

Qua làm việc Nguyễn Chí Kh khai nhận: Tinh thể màu trắng đựng trong túi nylon mà lực lượng Công an thu giữ nêu trên là ma túy đá của Kh , do Kh mua của một người tên Hòa Lạc (không rõ họ tên, địa chỉ) tại vòng xoay thuộc xã PH , thành phố B, tỉnh Bến Tre vào khoảng 21 giờ 30 phút ngày 21/05/2021 với giá 1.500.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, Kh bỏ vào bóp cất giấu rồi kẹp vào baga xe và chạy về nhà để sử dụng nhưng vừa về đến phường P , thành phố B, tỉnh Bến Tre thì bị lực lượng Công an phát hiện thu giữ như trên.

Theo Kết luận giám định số 54/2021/GĐMT ngày 31/05/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bến Tre kết luận: Tinh thể màu trắng đựng trong 01 túi nylon được niêm phong trong phong bì gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 3,6486 gam.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 74/2021/HS-ST ngày 04 tháng 11 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre đã tuyên bố bị cáo Nguyễn Chí Kh phạm “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, v khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Chí Kh 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án. Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về phần xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 15/11/2021, bị cáo Nguyễn Chí Kh kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với nội dung bản án sơ thẩm và giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Quan điểm của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa đề nghị: không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, v khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Chí Kh 02 năm 06 tháng tù về ‘Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Bị cáo không nói lời sau cùng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: đơn kháng cáo của bị cáo gửi đến Tòa án trong thời hạn kháng cáo phù hợp với quy định tại Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự nên được xem là hợp lệ. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng của cấp sơ thẩm. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng của cấp sơ thẩm đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung:

Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với nội dung bản án sơ thẩm đã xác định rằng: vào khoảng 21 giờ 45 phút ngày 21 tháng 5 năm 2021, tại khu vực tổ xB, Khu phố x, phường P , thành phố B, tỉnh Bến Tre, Nguyễn Chí Kh đã có hành vi tàng trữ trái phép 3,6486 gam ma túy, loại Methamphetamine để sử dụng thì bị lực lượng Công an bắt quả tang. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đã quy kết bị cáo phạm “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Kết quả tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm cho thấy, Tòa án cấp sơ thẩm đã kết án đối với bị cáo là đúng quy định pháp luật, không oan sai.

Xét kháng cáo của bị cáo yêu cầu được giảm nhẹ hình phạt, thấy rằng: Tòa án cấp sơ thẩm đã cân nhắc tính chất của vụ án, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng theo điểm s, v khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Kh 02 năm 06 tháng tù là có cơ sở, đúng quy định của pháp luật. Trong quá trình chuẩn bị xét xử phúc thẩm, bị cáo cung cấp giấy ra viện của bị cáo với chuẩn đoán viêm ruột thừa với viêm phúc mạc toàn bộ; một giấy xác nhận có nội dung hoàn cảnh gia đình bị cáo neo đơn, từ nhỏ bị cáo sống với ông bà ngoại, nay ông bà ngoại đã ngoài tuổi lao động, bị cáo là lao động chính trong gia đình. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới mà bị cáo được hưởng theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Mặc dù bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ mới, song xét tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội thì mức án mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt đối với bị cáo là đã có xem xét chiếu cố khi quyết định hình phạt, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội mà bị cáo gây ra. Mặt khác, tệ nạn ma túy là hiểm họa lớn cho toàn xã hội, gây tác hại cho sức khỏe, tinh thần của con người, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, an toàn xã hội là nguyên nhân chính dẫn đến các tệ nạn xã hội khác. Để phòng ngừa, ngăn chặn và đấu tranh có hiệu quả với tệ nạn ma túy cần phải xử lý nghiêm các hành vi mua bán, tàng trữ, vận chuyển trái phép chất ma túy nên cần cách ly bị cáo ra khỏi cộng đồng xã hội để giáo dục riêng và phòng ngừa chung trước thực trạng tội phạm về ma túy đang có chiều hướng gia tăng. Vì vậy không có cơ sở để giảm nhẹ hình phạt theo yêu cầu kháng cáo của bị cáo mà giữ nguyên hình phạt tù để bị cáo thi hành.

Đối với quan điểm của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa đã cân nhắc tính chất, mức độ của hành vi, hậu quả và nhân thân nên đã đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Chí Kh 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy” là có căn cứ nên được chấp nhận.

Về án phí hình sự phúc thẩm, theo quy định của pháp luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì bị cáo phải chịu do kháng cáo không được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự; không chấp nhận kháng cáo của bị cáo; giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; các điểm s, v khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Chí Kh 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

2. Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Áp dụng Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: án phí hình sự phúc thẩm bị cáo Nguyễn Chí Kh phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm về xử lý vật chứng, án phí không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ