vanban.org

Bản án 24/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chị Khổng Thị H được ly hôn với anh Lê Cao B

Về con chung: Giao cho chị Khổng Thị H được quyền trực tiếp nuôi dưỡng cháu Lê Huy Q, sinh ngày 13/6/2016. Anh Lê Cao B được quyền trực tiếp nuôi dưỡng cháu Lê Mai L, sinh ngày 09/11/2012, hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền, nghĩa vụ thăm nom chăm sóc con chung không ai được cản… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp hôn nhân gia đình"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chị Khổng Thị H được ly hôn với anh Lê Cao B
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĨNH TƯỜNG
TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2022/HNGĐ - ST
Ngày 04 tháng 7 năm 2022
“Tranh chấp hôn nhân gia đình”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH TƯỜNG, TỈNH VĨNH PHÚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đỗ Minh Ái

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đỗ Thị Phương Thúy và bà Nguyễn Thị Ngọc Bích.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Oanh – Cán bộ Toà án nhân dân huyện Vĩnh Tường.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường tham gia phiên tòa: Ông Đặng Anh Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Vĩnh Tường xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 17/2022/TLST- HNGĐ ngày 15 tháng 02 năm 2022 về việc ly hôn, phân chia con chung theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2022/QĐXXST - HNGĐ ngày 26 tháng 5 năm 2022 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Khổng Thị H, sinh năm 1988;

Nơi đăng ký HKTT: Thôn N, xã Yên Bình, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc; Chỗ ở hiện nay: Thôn H, xã Tử Du, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc (có mặt)

Bị đơn: Anh Lê Cao Ba, sinh năm 1989; Địa chỉ: Thôn N, xã Yên Bình, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 18 tháng 01 năm 2022 và những lời khai tiếp theo cũng như tại phiên toà, nguyên đơn chị Khổng Thị H trình bày:

Chị và anh Lê Cao B kết hôn với nhau vào ngày 09/9/2011, trước khi cưới được tự do tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn với nhau tại Uỷ ban nhân dân xã Yên Bình. Cưới xong, chị về làm dâu và ở chung cùng gia đình anh B. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hòa thuận, đến năm 2020 bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do chị và anh B bất đồng quan điểm trong cách giáo dục con cũng như trong sinh hoạt hàng ngày khiến vợ chồng luôn cãi vã xung khắc, không khí gia đình căng thẳng, cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc. Ngày 09/01/2022, vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng, anh B đánh chị khiến chị không chịu được nên đã bỏ về nhà mẹ đẻ ở, vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay. Trong thời gian ly thân hai bên gia đình cũng như anh chị không dàn xếp gì. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh B.

Về con chung: Chị và anh Ba có 02 con chung cháu Lê Mai L, sinh ngày 09/11/2012 và Lê Huy Q, sinh ngày 13/6/2016. Hiện nay cả hai cháu đang ở với anh B. Ly hôn chị đề nghị để chị được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung và không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con. Hiện nay chị đang làm công nhân tại Công ty TNHH JAHWA VINA, thu nhập trung bình hàng tháng của chị khoảng 7.000.000đ – 8.000.000đ đủ điều kiện nuôi dưỡng các con chung. Trường hợp anh B không đồng ý để chị nuôi cả hai con chung, thì chị đề nghị được nuôi dưỡng cháu Q để anh B trực tiếp nuôi dưỡng cháu L, cả hai không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng nhau.

Về tài sản, công nợ, đất nông nghiệp, công sức: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Lê Cao B vắng mặt tại phiên tòa, nhưng tại Bản tự khai ngày 17/02/2022 anh thừa nhận quá trình kết hôn, thời gian chung sống như chị H trình bày là đúng. Về nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không đồng nhất với nhau trong cách dạy con và có những vấn đề mâu thuẫn trong cuộc sống hàng ngày, anh thừa nhận ngày 09/01/2022, do mâu thuẫn về cách giáo dục con nên anh có đánh chị H khiến chị H bỏ về nhà mẹ đẻ ở, vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay. Nay chị H xin ly hôn, anh nhận thấy tình cảm vợ chồng vẫn còn, anh không đồng ý ly hôn.

Về con chung: Anh xác nhận vợ chồng có 02 con chung đúng như chị H trình bày. Anh không đồng ý ly hôn nên không đề nghị giải quyết về con chung. Nếu trường hợp chị H vẫn kiên quyết ly hôn anh đề nghị được nuôi cả hai con chung. Hiện nay anh đang ở trên đất và nhà cùng bố mẹ anh (nhà đất là tài sản của bố mẹ anh) và làm nghề lao động tự do tại thị trấn Thổ Tang, thu nhập trung bình hàng tháng khoảng 5.000.000đ – 6.000.000đ, đủ điều kiện nuôi cả hai con chung nên không yêu cầu chị H cấp dưỡng.

Về tài sản, công nợ, đất nông nghiệp, công sức: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về kiểm sát tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký và các đương sự:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự của người tiến hành tố tụng và của người tham gia tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tiến hành thụ lý, thu thập chứng cứ và xét xử vụ án theo đúng thẩm quyền, đúng trình tự thủ tục tố tụng mà pháp luật quy định; người tham gia tố tụng chị H, đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự, anh B đã được triệu tập hợp lệ 02 lần nhưng vẫn cố tình vắng mặt, đề nghị xét xử vắng mặt anh B theo quy định.

Về đường lối giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử cho chị Khổng Thị H được ly hôn anh Lê Cao B. Về con chung: Giao cho chị Khổng Thị H được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Lê Huy Q, sinh ngày 13/6/2016 còn anh Lê Cao B được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Lê Mai L, sinh ngày 09/11/2012. Chị H, anh B không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở. Về tài sản, công nợ, đất nông nghiệp, công sức các đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. Chị H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Khổng Thị H có đơn đề nghị Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường giải quyết tranh chấp về ly hôn và nuôi con chung với anh Lê Cao B. Theo quy định tại Khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Do bị đơn cư trú tại xã Yên Bình, huyện Vĩnh Tường theo quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 35; điểm a, Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.

[1.2] Về sự vắng mặt của bị đơn tại phiên tòa: Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án, các giấy triệu tập, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa cho anh B theo đúng quy định, anh B đã có bản tự khai, tham gia hòa giải tại tòa án nhưng lại vắng mặt tại phiên tòa mặc dù đã được tống đạt hợp lệ. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh B theo quy định.

[2] Về nội dung: Chị Khổng Thị H và anh Lê Cao B kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định, đây là cuộc hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ.

Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh vợ chồng bất đồng quan điểm trong cách nuôi dạy con và trong đời sống, sinh hoạt hàng ngày, trong thời gian mâu thuẫn hai bên không có biện pháp gì để cải thiện tình cảm khiến mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, cuộc sống gia đình không có hạnh phúc. Đến tháng 1/2022 mâu thuẫn trầm trọng anh B đánh chị H khiến chị về nhà mẹ đẻ sinh sống, vợ chồng ly thân từ đó đến nay. Trong thời gian ly thân hai bên không có quan hệ tình cảm gì. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiền hành hòa giải để anh chị về đoàn tụ nhưng không có kết quả, bản thân anh B không muốn ly hôn nhưng anh không có biện pháp gì để thuyết phục chị H, cải thiện tình cảm vợ chồng. Tại các buổi tòa án tiến hành hòa giải để anh chị về đoàn tụ anh đều vắng mặt. Điều đó thể hiện anh không thực tâm muốn đoàn tụ cùng chị H mà chỉ nhằm mục đích kéo dài gây khó khăn trong việc giải quyết vụ án. Nay chị H kiên quyết ly hôn nhận thấy mâu thuẫn giữa anh chị đã thực sự trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, việc chị H xin ly hôn là có căn cứ phù hợp với Điều 51 và Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình do đó được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3] Về con chung: Chị H và anh B có hai con chung là cháu Lê Mai L, sinh ngày 09/11/2012 và cháu Lê Huy Q, sinh ngày 13/6/2016. Xét nguyện vọng nuôi con của anh chị thấy rằng, nếu giao tất cả hai cháu cho chị H hoặc cho anh B nuôi dưỡng là không phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh kinh tế của anh chị mà cần giao cho anh chị mỗi người nuôi một cháu là có căn cứ. Do cháu L đã lớn tự chăm sóc được bản thân, hơn nữa cháu có nguyện vọng ở với anh B nên cần giao cháu L cho anh B nuôi dưỡng, cháu Q còn nhỏ cần sự chăm sóc của người mẹ nên giao cháu Q cho chị H nuôi dưỡng là phù hợp.

[4] Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị H, anh B không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.

[5] Về tài sản, công nợ, đất nông nghiệp, công sức: Không đặt ra xem xét giải quyết.

[6] Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 51, 56, 81,82,83 Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Khoản 1 Điều 28, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Về hôn nhân: Chị Khổng Thị H được ly hôn với anh Lê Cao B

2. Về con chung: Giao cho chị Khổng Thị H được quyền trực tiếp nuôi dưỡng cháu Lê Huy Q, sinh ngày 13/6/2016. Anh Lê Cao B được quyền trực tiếp nuôi dưỡng cháu Lê Mai L, sinh ngày 09/11/2012, hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền, nghĩa vụ thăm nom chăm sóc con chung không ai được cản trở.

3. Về tài sản, công nợ, đất nông nghiệp, công sức: Không xem xét giải quyết.

4. Về án phí: Chị Khổng Thị H phải chịu 300.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí ly hôn sơ thẩm đã nộp là 300.000đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí số: 000538 ngày 15 tháng 02 năm 2022 của Chi cục Thi hành dân sự huyện Vĩnh Tường. Chị đã nộp đủ tiền án phí.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự, người được thi hành án và người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án Dân sự.

Chị Khổng Thị H có quyền kháng cáo bản án Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Lê Cao Ba vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ