vanban.org

Bản án 24/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thúy L về việc xin ly hôn với ông Nguyễn Thành Y.

Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thúy L được ly hôn với ông Nguyễn Thành Y. Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Thị K (nữ) sinh ngày 09/12/2005 và Nguyễn Thiên K1 (nữ) sinh ngày 23/6/2020 cho bà Nguyễn Thị Thúy L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Ông Nguyễn Thành Y tạm thời không phải cấp dưỡng nuôi con… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Thúy L "Ly hôn, tranh chấp nuôi con" Nguyễn Thành Y"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thúy L về việc xin ly hôn với ông Nguyễn Thành Y.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĨNH HƯNG
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 29-12-2022
V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH HƯNG, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị The

Các Hội thẩm nhân dân:

+ Ông Huỳnh Hoàng Lam

+ Ông Nguyễn Thành Khoang

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Trọng Tâm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An.

Ngày 29 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 122/2022/TLST-HNGĐ ngày 12/10/2022 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 23/11/2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thúy L, sinh năm 1980. Địa chỉ: Số 125A đường Nguyễn Trung Tr, khu phố T, thị trấn T1, huyện T2, tỉnh Long An. (Có mặt)

- Bị đơn: Ông Nguyễn Thành Y, sinh năm 1977. Địa chỉ: Ấp T3, xã Thái B, huyện V, tỉnh Long An. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn xin ly hôn ngày 05 tháng 9 năm 2022 và những lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thúy L trình bày:

Sau thời gian quen biết, bà và ông Nguyễn Thành Y quyết định tiến đến hôn nhân vào năm 2000, có tổ chức đám cưới, đến ngày 15/9/2020 mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn T1, huyện T2, tỉnh Long An. Sau khi cưới ông bà sinh sống tại thị trấn T1, huyện T2, tỉnh Long An. Vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2018 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do ông Y có người phụ nữ khác bên ngoài nên làm cho tình cảm vợ chồng không hạnh phúc, vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 12/2020 cho đến nay. Hiện nay ông Y sinh sống tại ấp T3, xã Thái B, huyện V, tỉnh Long An. Nhận thấy cuộc sống vợ chồng không thể kéo dài được nữa nên bà xin ly hôn.

Về con chung: Giữa bà và ông Nguyễn Thành Y có 03 con chung tên Nguyễn Thị Th (nữ) sinh ngày 20/9/2001, Nguyễn Thị K (nữ) sinh ngày 09/12/2005 và Nguyễn Thiên K1 (nữ) sinh ngày 23/6/2020 hiện đang sống với bà. Bà yêu cầu được trực tiếp nuôi 02 con Nguyễn Thị K và Nguyễn Thiên K1, bà không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Đối với Nguyễn Thị Th đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết

Tại phiên tòa bà giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Từ khi thụ lý vụ án Tòa án đã thông báo các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật nhưng ông Nguyễn Thành Y không đến Tòa án để thể hiện ý kiến.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thẩm quyền: Bà Nguyễn Thị Thúy L có đơn xin ly hôn với ông Nguyễn Thành Y, yêu cầu được nuôi con nên quan hệ pháp luật trong vụ án là ly hôn, tranh chấp về nuôi con thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Ông Nguyễn Thành Y có nơi cư trú tại ấp T3, xã Thái B, huyện V, tỉnh Long An nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Hưng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc vắng mặt của bị đơn: Ông Nguyễn Thành Y được triệu tập hợp lệ đến phiên tòa đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt ông Y.

Về hôn nhân: Giữa bà Nguyễn Thị Thúy L và ông Nguyễn Thành Y xác lập quan hệ vợ chồng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn T1, huyện T2, tỉnh Long An nên đây là hôn nhân hợp pháp, áp dụng luật Hôn nhân và gia đình để xem xét giải quyết.

Từ khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tổ chức hòa giải hai lần để tạo điều kiện cho hai bên hàn gắn tình cảm với nhau nhưng ông Nguyễn Thành Y không tham gia phiên hòa giải mà không có lý do, đã thể hiện ý chí không mong muốn vợ chồng đoàn tụ và bà Nguyễn Thị Thúy L cương quyết xin ly hôn vì cho rằng tình cảm vợ chồng không còn. Từ những cơ sở trên, Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa bà Nguyễn Thị Thúy L và ông Nguyễn Thành Y là có thật và thật sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên có cơ sở chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thị Thúy L.

Về con chung: Bà Nguyễn Thị Thúy L và ông Nguyễn Thành Y có 03 con chung là Nguyễn Thị T (nữ) sinh ngày 20/9/2001, Nguyễn Thị K (nữ) sinh ngày 09/12/2005 và Nguyễn Thiên K1 (nữ) sinh ngày 23/6/2020 hiện đang sống chung với bà L. Đối với Nguyễn Thị Th đã trưởng thành nên Tòa án không xem xét. Tại bản tự khai cháu K có nguyện vọng sống với mẹ, cháu Thiên K2 dưới 36 tháng tuổi và đang sống với bà L nên Hội đồng xét xử xét thấy cần giao cháu K và cháu Thiên K1 cho bà L tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp với Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình. Bà L không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên tạm thời ông Y không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản: Bà Nguyễn Thị Thúy L cho rằng không có, ông Nguyễn Thành Y không thể hiện ý kiến nên Tòa án không xem xét.

Về nợ: Bà Nguyễn Thị Thúy L cho rằng không có, ông Nguyễn Thành Y không thể hiện ý kiến nên Tòa án không xem xét.

Về án phí: Bà Nguyễn Thị Thúy L phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân gia đình.

Bởi các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Áp dụng các Điều 19, 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Áp dụng khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thúy L về việc xin ly hôn với ông Nguyễn Thành Y.

1. Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thúy L được ly hôn với ông Nguyễn Thành Y.

2. Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Thị K (nữ) sinh ngày 09/12/2005 và Nguyễn Thiên K1 (nữ) sinh ngày 23/6/2020 cho bà Nguyễn Thị Thúy L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Ông Nguyễn Thành Y tạm thời không phải cấp dưỡng nuôi con.

Bên không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích con chung theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.

3. Về án phí: Buộc bà Nguyễn Thị Thúy L phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm sung ngân sách Nhà nước. Chuyển 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Hưng theo biên lai số 0003777 ngày 12/10/2022 sang tiền án phí.

Báo cho nguyên đơn được biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ