- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án ly hôn T-P"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị T, xử:
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 24/2022/HNGĐ-ST Ngày 10-5-2022 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Huyền Trang;
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Nhòng,
Ông Nguyễn Hữu Bình.
- Thư ký phiên toà: Bà Ngô Thị Ngọc Anh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tiên Lãng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Dung - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 5 năm 2022 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 59/2022/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 3 năm 2022 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 3 năm 2022 (Quyết định hoãn phiên tòa số 17/2022/QĐST-HNGĐ ngày 25 tháng 4 năm 2022), giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 19xx; nơi cư trú: Thôn L, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng, có mặt;
- Bị đơn: Anh Quách Thông P, sinh năm 19xx; nơi cư trú: Thôn L, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn (chị Nguyễn Thị T) trình bày: Chị và anh Quách Thông P tự nguyện kết hôn với nhau tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng vào ngày 02 tháng 10 năm 2009. Anh chị chung sống với nhau hòa thuận được 03 năm đầu thì mâu thuẫn phát sinh do tính tình không hợp, vợ chồng bất đồng quan điểm sống; một phần do anh P có quan hệ ngoại tình với người phụ nữ khác nên vợ chồng thường hay cãi nhau. Anh chị và gia đình đã hòa giải nhiều lần nhưng do anh P không thay đổi nên tình trạng vợ chồng ngày càng căng thẳng và đã sống ly thân từ năm 20xx đến nay, không còn quan tâm đến nhau. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể đoàn tụ, chị T yêu cầu được ly hôn anh P. Anh chị có 02 con chung là Quách Tuấn L, sinh ngày 25 tháng 9 năm 20xx và Quách Minh C, sinh ngày 23 tháng 10 năm 20xx. Khi ly hôn, chị T đề nghị Tòa án giao cả 02 con cho chị trực tiếp nuôi dưỡng. Chị T làm công nhân, thu nhập ổn định; ngoài việc tự mình, chị T còn được sự hỗ trợ của mẹ đẻ trong việc chăm sóc các con. Về việc cấp dưỡng cho con và về tài sản chung, chị xin tự thỏa thuận với anh P, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn (anh Quách Thông P ) khai, xác nhận lời khai của chị T về thời gian kết hôn, về con chung, về tài sản chung là hoàn toàn đúng. Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng anh chị là do anh P làm nghề lao động tự do, thường xuyên đi làm xa nhà dẫn tới chị T nghi ngờ anh ngoại tình với người phụ nữ khác. Vì vậy, chị T thường xuyên gây sự cãi nhau với anh, anh P cũng đã giải thích và gia đình đã hòa giải nhiều lần nhưng chị T vẫn cố chấp không nghe dẫn tới quan hệ vợ chồng ngày càng căng thẳng. Nhận thấy vợ chồng không thể hòa hợp, chị T yêu cầu ly hôn, anh P đồng ý ly hôn chị T. Anh chị có 02 con chung như chị T khai, các con hiện do chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Khi ly hôn, anh đề nghị Tòa án giao con lớn cho anh trực tiếp nuôi dưỡng, giao con nhỏ cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Việc cấp dưỡng cho con và về tài sản chung, anh xin tự thỏa thuận với chị T, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tài liệu xác minh tại gia đình và địa phương thể hiện: Mâu thuẫn vợ chồng chị T, anh P là do bất đồng quan điểm sống, nghi ngờ nhau có quan hệ ngoại tình dẫn đến anh chị thường xuyên cãi nhau, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc và đã sống ly thân từ năm 20xx đến nay, không còn quan T đến nhau. Anh chị có 02 con chung như các đương sự khai. Từ khi anh chị sống ly thân đến nay con chung của anh chị do chị T nuôi dưỡng, chăm sóc tốt. Trường hợp nếu phải ly hôn, anh chị tranh chấp về con chung, đề nghị Tòa án giải quyết theo nguyện vọng của các cháu và theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa: Nguyên đơn (chị T) vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; bị đơn (anh P) vắng mặt tại phiên tòa không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Thẩm phán đã thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, thông báo về phiên họp, hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử đúng quy định về thẩm quyền, thời hạn, trình tự, thủ tục tố tụng; phiên toà được mở đúng thời hạn; Hội đồng xét xử thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại các điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn không có mặt tại phiên tòa là chưa thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ của bị đơn quy định tại các điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về đường lối giải quyết vụ án: Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các điều 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 266, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị T, xử cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn chị Quách Thông P; giao con Quách Tuấn L, sinh ngày 25 tháng 9 năm 20xx và Quách Minh C, sinh ngày 23 tháng 10 năm 20xx cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Về việc cấp dưỡng cho con và về tài sản chung, các đương sự xác nhận tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra để giải quyết. Chị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng:
. Đây là tranh chấp hôn nhân gia đình (ly hôn, tranh chấp nuôi con); bị đơn (anh Quách Thông P) có nơi cư trú: Thôn L, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tiên Lãng, theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
. Bị đơn (anh P) đã được Tòa án triệu tập lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt anh P.
- Về nội dung:
. Về quan hệ hôn nhân: Lời khai của các đương sự phù hợp với nhau, phù hợp với tài liệu xác minh tại gia đình, địa phương, sự phù hợp đó thể hiện: Chị T, anh P tự nguyện kết hôn với nhau tại Ủy ban nhân dân xã T vào ngày 02 tháng 10 năm 2009. Anh chị chung sống hòa thuận với nhau được 03 năm thì mâu thuẫn phát sinh do bất đồng quan điểm sống, nghi ngờ nhau có quan hệ bất chính với người khác, dẫn tới vợ chồng xô sát, bất hòa và đã sống ly thân từ năm 20xx đến nay, không quan T đến nhau. Nay chị T yêu cầu ly hôn anh P, anh P đồng ly hôn theo yêu cầu của chị T. Xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng chị T, anh P đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được; anh P, chị T đều đồng ý ly hôn. Căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T, xử cho chị T được ly hôn anh P.
. Về con chung: Anh chị có 02 con chung là Quách Tuấn L, sinh ngày 25 tháng 9 năm 20xx và Quách Minh C, sinh ngày 23 tháng 10 năm 20xx. Từ khi anh chị sống ly thân đến nay, con chung của anh chị do chị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc tốt. Khi ly hôn chị T đề nghị Tòa án giao cả 02 con cho chị trực tiếp nuôi dưỡng; anh P đề nghị Tòa án giao con Tuấn L cho anh trực tiếp nuôi dưỡng, giao con Minh C cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Xét thấy, chị T làm công nhân, có thu nhập và nơi ở ổn định, đảm bảo việc nuôi dưỡng, chăm sóc các con; ngoài việc tự mình, chị T còn được sự hỗ trợ của mẹ đẻ trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng các con. Anh P làm nghề lao động tự do, đi làm xa, không thường xuyên ở nhà. Quá trình giải quyết vụ án cháu L, cháu C có nguyện vọng được ở cùng với mẹ. Như vậy, có thể thấy điều kiện trực tiếp nuôi con hiện nay của chị T tốt hơn của anh P; việc chị T nhận trực tiếp nuôi hai con, phù hợp với nguyện vọng của các con. Để ổn định T lý, sinh hoạt và quyền lợi về mọi mặt của con, căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị T, xử giao con Quách Tuấn L và Quách Minh C cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Về việc cấp dưỡng cho con, các đương sự xin tự thỏa thuận với nhau, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Xét thấy quyền lợi của con vẫn được đảm bảo nên để anh chị tự giải quyết với nhau là phù hợp.
. Về tài sản chung: Các đương sự xin tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra giải quyết.
. Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 266, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị T, xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T được ly hôn anh Quách Thông P.
2. Về con chung: Giao con Quách Tuấn L, sinh ngày 25 tháng 9 năm 20xx và Quách Minh C, sinh ngày 23 tháng 10 năm 20xx cho chị Nguyễn Thị T trực tiếp nuôi dưỡng. Thời hạn nuôi con tính từ ngày 10 tháng 5 năm 2022 đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Không giải quyết việc cấp dưỡng cho con do các đương sự xin tự thỏa thuận với nhau, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung: Không giải quyết do đương sự không yêu cầu.
4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Chị T đã nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí theo Biên lai thu số 0006213 ngày 08 tháng 3 năm 2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiên Lãng. Như vậy, chị T đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - VKSND thành phố Hải Phòng; - VKSND huyện Tiên Lãng; - TAND thành phố Hải Phòng; - Đương sự; - Chi cục THADS huyện Tiên Lãng; - UBND xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng (ĐKKH 2009); - Lưu: Hồ sơ, HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Huyền Trang |