vanban.org

Bản án 24/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, xử cho chị Nguyễn Thị L được ly hôn anh Lường Viết C.

Về con chung: Giao cháu Lường Gia H, sinh ngày 02/3/2012 và cháu Lường Gia T, sinh ngày 29/12/2016 cho chị Nguyễn Thị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị L không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con. Anh Lường Viết C có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được quyền ngăn cấm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân và gia đình giữa chị L và anh C"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, xử cho chị Nguyễn Thị L được ly hôn anh Lường Viết C.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NÔNG CỐNG
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 28-6-2022
V/v: Ly hôn và nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NÔNG CỐNG, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Kỳ Anh.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Minh Trí.

2. Ông Lê Đức Thuận.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Hà - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hà - Kiểm sát viên.

Trong ngày 28/6/2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nông Cống xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 93/2022/TLST - HNGĐ ngày 07 tháng 4 năm 2022 về việc “Ly hôn và nuôi con”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2022/QĐXXST - HNGĐ ngày 27/5/2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1993.

Địa chỉ: Xóm x, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình.

- Bị đơn: Anh Lường Viết C, sinh năm 1991.

Địa chỉ: Thôn x, xã T, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa.

Tại phiên tòa có mặt chị L, vắng mặt anh C (không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện ngày 06/4/2022 và bản tự khai ngày 22/4/2022, nguyên đơn chị Nguyễn Thị L trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Lường Viết C kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 10/10/2012 tại UBND xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống bình thường đến tháng 12/2017 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng thường xuyên xảy ra bất đồng quan điểm. Anh C chơi bời, nghiện hút. Chị khuyên bảo nhưng anh không thay đổi mà còn nhiều lần đánh đập, chửi bới và xúc phạm chị. Chị không thể tiếp tục chung sống với anh C được nữa nên đã đem con về nhà ngoại ở từ tháng 12/2017. Vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay, không ai quan tâm đến ai. Xét thấy vợ chồng sống ly thân đã lâu, tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh C.

Về con chung: Chị L và anh C có 02 con chung là Lường Gia H, sinh ngày 02/3/2012 và Lường Gia T, sinh ngày 29/12/2016. Hiện nay 2 con đang ở với chị L. Chị làm công nhân may, thu nhập mỗi tháng từ 7.000.000đ đến 8.000.000đ. Chị cam đoan có đủ điều kiện nuôi con nên khi ly hôn chị có nguyện vọng xin được nuôi 2 con và không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Chị L Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, chị Nguyễn Thị L vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn và 2 nuôi con, không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Đối với anh Lường Viết C: Tòa án nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa đã thực hiện tống đạt Thông báo về việc thụ lý vụ án, Giấy triệu tập và Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho anh Lường Viết C. Nhưng trong thời hạn quy định anh C không nộp văn bản nêu ý kiến của mình, cũng không đến Tòa án làm việc theo Giấy triệu tập.

Tại Biên bản xác minh ngày 23 tháng 5 năm 2022, bà Phạm Thị N - mẹ đẻ của anh Lường Viết C trình bày: Chị Nguyễn Thị L và anh Lường Viết C kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 10/10/2012 tại UBND xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống bình thường đến cuối năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, không hợp nhau về tính cách. Anh C có thời gian chơi bời và bị nghiện. Từ đó mâu thuẫn vợ chồng trở nên trầm trọng. Hai bên gia đình đã hòa giải nhưng không khắc phục được mâu thuẫn. Anh C và chị L sống ly thân từ cuối năm 2017 đến nay.

Gia đình đã nhận được văn bản của Tòa án gửi cho anh C nhưng anh C đang đi làm ở tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, thỉnh thoảng mới về nhà nên gia đình nhận thay và đã thông báo ngay lại cho anh C biết. Quan điểm của anh C như sau:

Về hôn nhân: Anh C xác định tình cảm vợ chồng không còn nên anh cũng đồng ý ly hôn với chị L.

Về con chung: Anh C và chị L có 2 con chung là Lường Gia H, sinh ngày 02/3/2012 và Lường Gia T, sinh ngày 29/12/2016. Hiện nay 2 con đang ở với chị L. Chị L có nguyện vọng xin được nuôi 2 con và không yêu cầu anh cấp dưỡng nuôi con thì anh cũng đồng ý.

Về tài sản chung: Anh C không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nông Cống tại phiên tòa sơ thẩm:

* Về tố tụng:

Về việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật trong việc xác định thẩm quyền giải quyết vụ án, xác định tư cách tố tụng của các đương sự; việc thực hiện các thủ tục tố tụng như xác minh thu thập chứng cứ, ban hành và giao các văn bản tố tụng đều đúng và đầy đủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa: Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã tuân theo đầy đủ các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của đương sự: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật. Đối với anh C chấp hành không đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật trong quá trình xây dựng hồ sơ và không có mặt tại phiên tòa không có lý do chính đáng. Tòa án đã triệu tập hợp lệ đến tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng anh C vẫn vắng mặt. Vì vậy, đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt anh C theo điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

* Về nội dung:

Về hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; xử cho chị L được ly hôn anh C.

Về con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử giao cháu Huy và cháu Tú cho chị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị L không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét. Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

Về án phí: Căn cứ Điều 147 BLTTDS; điểm a khoản 1 Điều 24, khoản 5, khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của ủy ban Thường vụ Quốc hội. Chị Nguyễn Thị L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

. Về tố tụng: Anh Lường Viết C có hộ khẩu thường trú tại Thôn x, xã T, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa nên việc chị Nguyễn Thị L yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa giải quyết việc ly hôn là đúng với quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 36 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Quá trình giải quyết vụ án, anh Lường Viết C vắng mặt tại các buổi làm việc, hòa giải và xét xử của Tòa án, vì vậy không tiến hành được phiên hòa giải giữa chị Nguyễn Thị L và anh Lường Viết C thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ngày 28/6/2022 Tòa án đã mở phiên tòa xét xử nhưng vắng mặt anh Lường Viết C, vì vậy phải hoãn phiên tòa.

Tại phiên tòa sơ thẩm vắng mặt anh Lường Viết C, tuy nhiên anh C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng anh C vẫn vắng mặt, vì vậy cần áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt anh C là đúng với quy định của pháp luật.

Về nội dung:

Chị Nguyễn Thị L và anh Lường Viết C kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình vào ngày 10/10/2012. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hòa thuận bình thường đến tháng 12 năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trở nên trầm trọng dẫn đến việc vợ chồng sống ly thân từ năm 2017 cho đến nay không quan tâm gì đến nhau. Nay chị L xét thấy tình cảm vợ chồng không còn và đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Lường Viết C.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Lường Gia H, sinh ngày 02/3/2012 và Lường Gia T, sinh ngày 29/12/2016. Hiện nay 2 con đang ở với chị L. Nguyện vọng của chị L sau khi ly hôn là được nuôi 2 con và không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Vợ chồng không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Xét yêu cầu về việc ly hôn và nuôi con chung của chị L và anh C thấy rằng:

- Quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị L và anh Lường Viết C dựa trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình vào ngày 10/10/2012, vì vậy đây là hôn nhân hợp pháp.

- Đánh giá về thực trạng quan hệ vợ chồng: Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, anh C không chịu khó làm ăn và còn mắc vào tệ nạn nghiện ma túy. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 12 năm 2017 đến nay, không ai quan tâm đến ai.

Tại phiên tòa sơ thẩm, chị L vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn với anh Lường Viết C. Vì vậy, HĐXX xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung đã chấm dứt, mục đích hôn nhân là kết hôn hòa thuận hạnh phúc không đạt được. Vì vậy, chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị L là phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân gia đình.

Về con chung: Chị L và anh C có 02 con chung là Lường Gia H, sinh ngày 02/3/2012 và Lường Gia T, sinh ngày 29/12/2016. Trong quá trình xây dựng hồ sơ và tại phiên tòa sơ thẩm, chị L đều có nguyện vọng nuôi 2 con và không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con.

Về phía anh C đã được Tòa án tống đạt Thông báo thụ lý vụ án, Giấy triệu tập và Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng trong thời hạn quy định anh C không nộp văn bản nêu ý kiến của mình, cũng không đến Tòa án để làm việc và không có mặt tại phiên tòa.

Xét yêu cầu của chị L thấy rằng: Hiện nay 2 con đang ở với chị L. Khi ly hôn chị L có nguyện vọng xin được nuôi 2 con, anh C cũng đồng ý. Cháu Lường Gia H cũng có nguyện vọng xin được ở với mẹ. Vì vậy, cần giao cháu Huy và cháu Tú cho chị L trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng là phù hợp. Chị L không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con nên HĐXX không xem xét.

Về tài sản chung: Hai bên đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét. Dành quyền khởi kiện bằng vụ án dân sự khác về tài sản chung cho hai bên đương sự.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì những lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân gia đình; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 4 Điều 147, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, xử cho chị Nguyễn Thị L được ly hôn anh Lường Viết C.

2. Về con chung: Giao cháu Lường Gia H, sinh ngày 02/3/2012 và cháu Lường Gia T, sinh ngày 29/12/2016 cho chị Nguyễn Thị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị L không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con.

Anh Lường Viết C có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được quyền ngăn cấm.

Vì quyền lợi của con, các bên đương sự có quyền khởi kiện về việc cấp dưỡng nuôi con chung và thay đổi việc nuôi con chung theo quy định của pháp luật.

3. Về tài sản chung: Dành quyền khởi kiện cho các bên đương sự bằng vụ kiện dân sự khác khi có yêu cầu.

4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị L phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền chị L đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu tạm ứng án phí số AA/2021/0006858 ngày 07/4/2022 của Chi cục THADS Nông Cống (chị L đã nộp đủ án phí).

5. Quyền kháng cáo: Án xử công khai có mặt chị L, vắng mặt anh C. Chị L có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, Anh C vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ