vanban.org

Bản án 24/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Trần Thái Việt Tr.

Về nuôi con chung: Giao cho ông Huỳnh Quang Th nuôi dưỡng và chăm sóc 01 người con tên Huỳnh An A, sinh ngày 29/12/2012 (nữ). Bà Tr không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con mà không ai được cản trở. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án Trần Thái Việt Trinh-Huỳnh Quang Thái"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Trần Thái Việt Tr.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NĂM CĂN
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 12-5-2022
V/v tranh chấp “Ly hôn, nuôi
con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NĂM CĂN, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tạo.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Tạ Huyền Thanh;

Bà Võ Kiều Phương.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Thành Công - Là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau.

Ngày 12 tháng 5 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 40/2022/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 02 năm 2022 về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 4 năm 2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Trần Thái Việt Tr, sinh năm 1995 (xin vắng mặt).

Đăng ký hộ khẩu thường trú: Khóm H, thị trấn N, huyện N, tỉnh Cà Mau.

Chỗ ở hiện nay: Khóm 2, phường 1, thành phố C, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: Ông Huỳnh Quang Th, sinh năm 1987 (xin vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp 1, xã H, huyện N, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 14 tháng 02 năm 2022 nguyên đơn bà Trần Thái Việt Tr trình bày yêu cầu:

- Về hôn nhân: Qua thời gian quen biết, tìm hiểu nhau nên bà Tr và ông Th kết hôn với nhau vào năm 2012, có tổ chức đám cưới theo phong tục địa phương và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường 6, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau vào năm 2013. Khi mới kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc nhưng đến năm 2016 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống và vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2016 cho đến nay, trong thời gian sống ly thân vợ chồng cũng không hàn gắn được hôn nhân. Xét thấy, tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không đạt được hạnh phúc nên bà Trần Thái Việt Tr xin được ly hôn với ông Huỳnh Quang Th.

- Về con chung: Có 01 người con tên Huỳnh An A, sinh ngày 29/12/2012 (nữ) hiện đang sống cùng với ông Th, khi ly hôn bà Tr đồng ý giao con cho ông Th tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc và cũng theo nguyện vọng của con.

Về cấp dưỡng nuôi con: Vợ chồng tự thảo thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung, nợ thu và nợ trả: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại bản tự khai ngày 07 tháng 3 năm 2022 bị đơn ông Huỳnh Quang Th trình bày:

- Về hôn nhân: Ông Th và bà Tr có thời gian tìm hiểu nhau và đi đến hôn nhân vào năm 2012, hôn nhân tự nguyện, có tổ chức đám cưới theo phong tục địa phương nhưng đến năm 2013 mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường 6, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau. Khi mới chung sống vợ chồng sống hạnh phúc nhưng đến năm 2016 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm và thường xuyên cự cãi nhau nên vợ chồng tự nguyện sống ly thân từ năm 2016 cho đến nay. Xét thấy, tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể tiếp tục duy trì nên ông Huỳnh Quang Th đồng ý ly hôn với bà Trần Thái Việt Tr.

- Về con chung: Vợ chồng có 01 người con tên Huỳnh An A, sinh ngày 29/12/2012 (nữ) hiện đang sống cùng với ông Th. Khi ly hôn ông Th yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng và chăm sóc con.

Về cấp dưỡng nuôi con: Ông Th không yêu cầu bà Tr cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ thu và nợ trả: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa: Nguyên đơn và bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt nên không có ý kiến khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng:

Nguyên đơn bà Trần Thái Việt Tr và bị đơn ông Huỳnh Quang Th có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, yêu cầu của đương sự phù hợp với khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên được chấp nhận.

Về nội dung vụ án:

Về hôn nhân: Bà Tr và ông Th tự nguyện kết hôn với nhau vào năm 2012, có tổ chức đám cưới theo phong tục truyền thống và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường 6, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau theo giấy chứng nhận kết hôn số 81 ngày 23 tháng 4 năm 2013. Vì vậy, quan hệ hôn nhân của bà Tr và ông Th được pháp luật công nhận là vợ chồng kể từ thời điểm đăng ký kết hôn.

Xét thấy, bà Tr xin ly hôn với ông Th là vì trong quá trình chung sống vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống dẫn đến hôn nhân không hạnh phúc. Về phía ông Th cũng cho rằng khi mới kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc nhưng đến năm 2016 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm và thường xuyên cự cãi nhau nên vợ chồng tự nguyện sống ly thân từ năm 2016 cho đến nay. Xét thấy, tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể tiếp tục duy trì nên ông Huỳnh Quang Th đồng ý ly hôn với bà Trần Thái Việt Tr. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa bà Tr và ông Th đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể duy trì, mục đích hôn nhân không đạt được nếu duy trì hôn nhân cũng không đem lại hạnh phúc nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Tr. Bà Tr được ly hôn với ông Th theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về nuôi con chung: Vợ chồng có 01 người con tên Huỳnh An A, sinh ngày 29/12/2012 (nữ), khi ly hôn ông Th yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng và chăm sóc con. Bà Tr cũng đồng ý giao con cho ông Th được nuôi dưỡng và chăm sóc. Xét thấy, theo quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình thì con từ đủ 07 tuổi trở lên phải xem xét nguyện vọng của con, Tòa án đã làm việc trực tiếp với cháu Huỳnh An A thì cháu A có nguyện vọng muốn sống chung với cha nên Hội đồng xét xử tôn trọng nguyện vọng của cháu, giao cháu Huỳnh An A, sinh ngày 29/12/2012 (nữ) cho ông Th có trách nhiệm nuôi dưỡng và chăm sóc.

Bà Tr không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con mà không ai được cản trở. Tuy nhiên, lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó, theo quy định tại khoản 3 Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về cấp dưỡng nuôi con, chia tài sản chung và công nợ: Căn cứ vào Điều 5 của Bộ luật Tố tụng dân sự “Tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó”, do đương sự không đặt ra yêu cầu nên không xem xét.

Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm không giá ngạch 300.000 đồng, người khởi kiện yêu cầu ly hôn không phụ thuộc vào việc Tòa án có chấp nhận hay không chấp chận cho ly hôn đều phải chịu án phí nên bà Tr phải chịu nộp 300.000 đồng theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và được khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã dự nộp.

Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81, khoản 3 Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Trần Thái Việt Tr. Bà Trần Thái Việt Tr được ly hôn với ông Huỳnh Quang Th.

2. Về nuôi con chung: Giao cho ông Huỳnh Quang Th nuôi dưỡng và chăm sóc 01 người con tên Huỳnh An A, sinh ngày 29/12/2012 (nữ).

Bà Tr không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con mà không ai được cản trở.

3. Về cấp dưỡng nuôi con, chia tài sản chung và công nợ: Đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.

4. Về án phí: Án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm không có giá ngạch 300.000 đồng, bà Tr phải chịu nộp án phí 300.000 đồng, bà Tr có nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0015425 ngày 14 tháng 02 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Năm Căn được chuyển thu, không phải nộp tiếp.

“Trường hợp quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự”.

5. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ