- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nông Thị H - Lý Văn Q"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nông Thị H được ly hôn với anh Lý Văn Q. (Giấy chứng nhận kết hôn số 25/2014, quyển số 01/2012, ngày 01/7/2014 tại Uỷ ban nhân dân xã Y, huyện L, tỉnh Lạng Sơn);
- Căn cứ chính? Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC BÌNH TỈNH LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 24/2022/HNGĐ-ST Ngày 29-7-2022 V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC BÌNH, TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nông Thị Huyền Trang;
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Giang;
Bà Vy Thị Thơm;
- Thư ký phiên toà: Bà Vy Thị Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà: Bà Phương Thị Tiệp - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 7 năm 2022 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 81/2022/TLST-HNGĐ ngày 21/6/2022 về việc Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 14/7/2022, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nông Thị H, sinh năm 1991, cư trú tại: Thôn C, xã Y, huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn; có mặt.
- Bị đơn: Anh Lý Văn Q, sinh năm 1988, cư trú tại: Thôn C, xã Y, huyện L, tỉnh Lạng Sơn; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện ngày 23/3/2022, các lời khai tiếp theo và tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn chị Nông Thị H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nông Thị H và anh Lý Văn Q quen biết nhau do mai mối, không được tìm hiểu nhau, được hai bên gia đình tổ chức hôn lễ theo phong tục địa phương vào năm 2014. Anh chị tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 01/7/2014 tại Uỷ ban nhân dân xã Y, huyện L, tỉnh Lạng Sơn. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn vào năm 2015. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng có tính cách không hòa hợp, không cùng quan điểm sống, anh Lý Văn Q không chăm lo cho gia đình, không quan tâm, yêu thương vợ con. Đến năm 2019 mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng hơn, anh chị thường xuyên cãi nhau do anh Lý Văn Q thường xuyên cờ bạc, rượu chè, anh bán hết những đồ vật dụng trong gia đình. Chị Nông Thị H đã nhiều lần khuyên bảo nhưng anh Lý Văn Q không thay đổi. Ngày 02/12/2019, sau khi anh Lý Văn Q uống rượu say với bạn bè thì đánh đập chị. Ngay sau đó, mẹ đẻ của chị đến can ngăn thì anh Lý Văn Q đánh cả mẹ chị. Chị đã trình báo Trưởng Thôn C, xã Y, huyện L đến giải quyết và viết đơn ly hôn. Tại Tòa án, anh Lý Văn Q hứa sau này sẽ không cờ bạc, rượu chè, không đánh chị nữa. Do các con còn nhỏ nên chị rút đơn để chăm sóc con. Nhưng một thời gian sau, anh Lý Văn Q vẫn không thay đổi. Từ tháng 03/2021 đến nay, vợ chồng chính thức ly thân, chị đã về sinh sống tại nhà mẹ đẻ tại thôn B, xã H, huyện L, tỉnh Lạng Sơn, còn anh Lý Văn Q sinh sống tại Thôn C, xã Y, huyện L, tỉnh Lạng Sơn. Nay, chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng không hàn gắn được, không thể tiếp tục chung sống nên yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lý Văn Q.
Về con chung: Anh chị có hai con chung là cháu Lý Hồng G, sinh ngày 26/02/2015 và cháu Lý Thiên Â, sinh ngày 11/4/2017 hiện nay đang sống với anh Lý Văn Q. Chị Nông Thị H yêu cầu anh Lý Văn Q trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cả hai con chung đến khi con đủ 18 tuổi. Chị Nông Thị H tự nguyện cấp dưỡng nuôi con là 1.500.000 đồng/1 tháng cho mỗi con, từ ngày 01/9/2022 đến khi con đủ 18 tuổi.
Quá trình chung sống vợ chồng không có tài sản chung, không vay nợ ai.
Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, anh Lý Văn Q trình bày: Về điều kiện kết hôn, thời gian kết hôn và con chung như chị Nông Thị H trình bày là đúng. Theo anh Lý Văn Q vợ chồng không có mâu thuẫn lớn, tuy anh từng có hành vi đánh đập chị, xúc phạm người thân trong gia đình chị nhưng là do anh say rượu, không kiềm chế được. Bây giờ anh Lý Văn Q đã thay đổi, chăm lo được cho gia đình, không cờ bạc, rượu chè nữa. Thời gian ly thân, anh có hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng chị Nông Thị H không chấp nhận. Anh nghi ngờ chị Nông Thị H đã có quan hệ tình cảm với người đàn ông khác nhưng anh không có chứng cứ. Nay, chị Nông Thị H yêu cầu ly hôn với anh thì anh không đồng ý vì vẫn còn tình cảm vợ chồng, anh mong muốn chị Nông Thị H tha thứ cho anh để cùng chăm lo cho các con.
Về con chung: Trường hợp Tòa án giải quyết ly hôn cho chị Nông Thị H và anh thì anh Lý Văn Q yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cả hai con chung là Lý Hồng G, sinh ngày 26/02/2015 và Lý Thiên Â, sinh ngày 11/4/2017, đến khi con đủ 18 tuổi. Anh Lý Văn Q không yêu cầu chị Nông Thị H cấp dưỡng nuôi con vì anh đủ điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc tốt cho cả hai con.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có.
Tại lời khai trong hồ sơ, người làm chứng bà Hà Thị L trình bày: Bà là mẹ đẻ của Nông Thị H. Chị Nông Thị H kết hôn với anh Lý Văn Q vào khoảng 7/2014 qua mai mối, tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Y. Vợ chồng sống bình thường được khoảng 01 năm thì có mâu thuẫn. Do anh Lý Văn Q không tu chí làm ăn, thường xuyên uống rượu say, ham chơi cờ bạc. Khi chị Nông Thị H góp ý, khuyên nhủ thì anh Lý Văn Q còn chửi bới, thách thức đánh gia đình bên ngoại. Khoảng năm 2019 bà nghe thông tin vợ chồng đánh nhau, bà có đến nhà anh Lý Văn Q xem tình hình sự việc và khuyên anh Lý Văn Q là vợ chồng có chuyện gi thì bảo ban nhau, ngay lập tức anh Lý Văn Q dùng tay đấm vào đầu vào mặt bà mấy cái liền. Sự việc này chị Nông Thị H có báo Trưởng Thôn C đến lập biên bản giải quyết. Sau khi anh Lý Văn Q đánh bà, sau đó anh Lý Văn Q có đến nhà bà xin lỗi và xin bà tha thứ, hứa từ nay không đánh chị Nông Thị H nữa, sẽ tu chí làm ăn. Nhưng thời gian sau vợ chồng lại xảy ra mâu thuẫn nhiều lần và chị Nông Thị H đưa hai cháu về sinh sống cùng bà tại thôn B, xã H mỗi lần về khoảng 15 đến 20 ngày. Những lần chị Nông Thị H bỏ về bên ngoại ở, bà đều khuyên bảo chị chị Nông Thị H về đoàn tụ gia đình vì các cháu còn nhỏ nhưng chị Nông Thị H nói rằng anh Lý Văn Q không có gì thay đổi, vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng, không thể hoà thuận và hàn gắn được tình cảm. Nên đầu năm 2020 chị Nông Thị H bỏ đi làm công ty ở Bắc Giang, đến đầu năm 2021 thì ly thân cho đến nay.
Tại biên bản xác minh ngày 08/7/2022, Trưởng Thôn C, xã Y ông Vi Văn N cung cấp thông tin: Ngày 02/12/2019, ông nhận được trình báo của chị Nông Thị H về việc vợ chồng chị có mâu thuẫn dẫn đến xô sát, đánh nhau. Sau khi nhận được thông tin trình báo, đại diện thôn đã đến nhà chị Nông Thị H và anh Lý Văn Q tổ chức hoà giải, lập biên bản sự việc. Sau này, vợ chồng chị Nông Thị H và anh Lý Văn Q có mâu thuẫn nữa hay không ông không rõ vì ông không nhận được thông tin gì thêm.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn:
Việc chấp hành pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án và trong quá trình giải quyết vụ án, tại phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án thực hiện đúng các quy định pháp luật tố tụng dân sự. Các đương sự đã thực hiện đúng các quy định tại các Điều 70, Điều 71 và Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Chị Nông Thị H và anh Lý Văn Q có mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống; anh Lý Văn Q có hành vi bạo lực với chị Nông Thị H; vợ chồng không còn tình cảm, mâu thuẫn vợ chồng không hàn gắn được, sống ly thân từ năm 2021 đến nay. Chị Nông Thị H xin ly hôn với anh Lý Văn Q là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận. Về con chung: Thấy rằng anh Lý Văn Q có chỗ ở, có thu nhập ổn định, từ khi vợ chồng ly thân anh Lý Văn Q là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung đến nay nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 107, Điều 110, Điều 116, Điều 117 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 giao con chung cho anh Lý Văn Q trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục con đến khi đủ 18 tuổi. Đề nghị ghi nhận sự tự nguyện cấp dưỡng nuôi con của chị Nông Thị H là 1.500.000 đồng/1 tháng cho mỗi con đến khi con đủ 18 tuổi. Về tài sản chung và nợ chung: Không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết. Về án phí và quyền kháng cáo: Đề nghị giải quyết theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét, thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn, tranh chấp nuôi con vì vậy quan hệ pháp luật là "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn"; bị đơn anh Lý Văn Q, cư trú Thôn C, xã Y, huyện L, tỉnh Lạng Sơn. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nông Thị H và anh Lý Văn Q tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Y, huyện L, tỉnh Lạng Sơn vào ngày 01/7/2014. Như vậy, quan hệ hôn nhân của chị Nông Thị H và anh Lý Văn Q là hợp pháp. Quá trình chung sống, anh chị phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng tính cách không hoà hợp, không tìm được tiếng nói chung, anh Lý Văn Q thường xuyên cờ bạc, rượu chè, có hành vi bạo lực với chị Nông Thị H và người thân của chị. Từ đầu năm 2021 đến nay, anh chị sống ly thân. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, chị Nông Thị H xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể tiếp tục chung sống với anh Lý Văn Q nên cương quyết yêu cầu ly hôn. Anh Lý Văn Q xác định vợ chồng có mâu thuẫn khó có thể hàn gắn nhưng anh hứa sẽ thay đổi, anh vẫn còn tình cảm với chị Nông Thị H nên không đồng ý ly hôn. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng của anh chị đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn, đời sống chung không thể kéo dài. Vì vậy, yêu cầu ly hôn của chị Nông Thị H được ly hôn với anh Lý Văn Q là có căn cứ nên được chấp nhận.
Về con chung: Chị Nông Thị H và anh Lý Văn Q có 02 con chung là cháu Lý Hồng G, sinh ngày 26/02/2015 và cháu Lý Thiên Â, sinh ngày 11/4/2017, từ khi ly thân đến nay cả hai con đều sống với anh Lý Văn Q tại Thôn C, xã Y, huyện L, tỉnh Lạng Sơn. Chị Nông Thị H và anh Lý Văn Q đều thống nhất khi ly hôn anh Lý Văn Q được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cả hai con chung đến khi con đủ 18 tuổi vì anh Lý Văn Q có nhà riêng, có thu nhập ổn định từ công việc nông nghiệp khoảng 6.000.000 đồng/1 tháng. Cháu Lý Hồng G có nguyện vọng được sống cùng với anh Lý Văn Q. Do đó, để đảm bảo sự phát triển toàn diện cho trẻ em, Hội đồng xét xử xét thấy cần giao cả 02 con chung cho anh Lý Văn Q trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giao dục đến khi đủ 18 tuổi. Tuy anh Lý Văn Q không yêu cầu chị Nông Thị H cấp dưỡng nuôi con nhưng chị Nông Thị H tự nguyện cấp dưỡng nuôi con là 1.500.000 đồng/1 tháng cho mỗi con từ ngày 01/9/2022 đến khi con đủ 18 tuổi nên Hội đồng xét xử ghi nhận. Chị Nông Thị H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.
Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn tại phiên tòa là có cơ sở, phù hợp với các quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và án phí cấp dưỡng theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều Điều 83, Điều 107, Điều 110, Điều 116, Điều 117 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; căn cứ vào khoản 5, 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nông Thị H được ly hôn với anh Lý Văn Q. (Giấy chứng nhận kết hôn số 25/2014, quyển số 01/2012, ngày 01/7/2014 tại Uỷ ban nhân dân xã Y, huyện L, tỉnh Lạng Sơn);
2. Về con chung: Giao 02 (hai) con chung là cháu Lý Hồng G, sinh ngày 26/02/2015 và cháu Lý Thiên Â, sinh ngày 11/4/2017 cho anh Lý Văn Q trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục đến khi con đủ 18 tuổi.
Chị Nông Thị H có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con là 1.500.000 đồng/tháng (một triệu năm trăm nghìn đồng trên một tháng) cho mỗi con kể từ ngày 01/9/2022 đến khi con đủ 18 tuổi. Chị Nông Thị H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở chị thực hiện quyền này.
3. Về lãi suất chậm trả: Khi bản án có hiệu lực pháp luật, bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành, nếu bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
4. Về án phí: Nguyên đơn chị Nông Thị H phải chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng và án phí cấp dưỡng nuôi con là 300.000 đồng, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí chị Nông Thị H đã nộp tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/00054141 ngày 21/6/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện L, tỉnh Lạng Sơn.
Chị Nông Thị H phải nộp tiếp 300.000 đồng tiền án phí.
5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lạng Sơn; - VKSND tỉnh Lạng Sơn; - VKSND huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn; - Chi cục Thi hành án Dân sự huyện L, tỉnh Lạng Sơn; - UBND xã Y, huyện L, tỉnh Lạng Sơn; - Các đương sự; - Lưu: Hồ sơ vụ án; THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nông Thị Huyền Trang THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nông Thị Huyền Trang |