vanban.org

Bản án 24/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lý Lê M đối với bị đơn anh Nguyễn Chí T về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Lý Lệ M và anh Nguyễn Chí T. Về nuôi con chung: Giao con chung tên Nguyễn T M A, sinh ngày 01 tháng 02 năm 2018 cho chị M trực tiếp trôm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Chị M không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lý Lê Minh - Nguyễn Chí Thái"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lý Lê M đối với bị đơn anh Nguyễn Chí T về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÀU BÀNG
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2022/HNGĐ-ST
Ngày 07-9-2022
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÀU BÀNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Độ;

Ông Nguyễn Long Giang.

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Diễm Trang, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông T Hoàng Giang – Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 140/2022/TLST-HNGĐ, ngày 18 tháng 5 năm 2022 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 65/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 8 năm 2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lý Lệ M, sinh năm 1994; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 515/21A, khu phố 2, phường T, thị xã B, tỉnh D, vắng mặt có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Chí T, sinh năm 1992; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp L, xã N, huyện B1, tỉnh D, hiện đang chấp hành án tại Phân trại 1, Trại giam Thủ Đức, huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận, vắng mặt có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 17 tháng 6 năm 2022 và trong quá trình tham gia tố tụng nguyên đơn chị Lý Lệ M trình bày:

Về hôn nhân: Chị M và anh T tự nguyện sống chung và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện B1, tỉnh D theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 109/2017, ngày 20 tháng 11 năm 2017. Sau khi kết hôn, chị M và anh T sống hạnh phúc được thời gian đầu sau đó thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm, thường xuyên tranh cãi. Anh T không lo cho vợ, không có trách nhiệm với gia đình dù chị M đã nhiều lần khuyên ngăn nhưng anh T không thay đổi. Do mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, chị M và anh T không còn sống chung từ năm 2018, chị M đã về nhà mẹ ruột sinh sống. Chị M yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh T.

Về con chung: Chị M và anh T có 01 con chung tên Nguyễn T M Anh, sinh ngày 01 tháng 02 năm 2018. Cháu M Anh đang sinh sống cùng với chị M. Khi ly hôn, chị M yêu cầu được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Chị M không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị M không tranh chấp về tài sản chung, nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại Biên bản lấy lời khai ngày 26 tháng 7 năm 2022 tại Phân trại 1, trại giam Thủ Đức, huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận, anh T trình bày:

Về hôn nhân: Anh T và chị M có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Long Nguyên. Quá trình chung sống giữa anh T và chị M thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, đời sống vợ chồng không hạnh phúc. Nay chị M yêu cầu ly hôn, anh T đồng ý.

Về con chung: Chị M và anh T có 01 con chung tên Nguyễn T M Anh, sinh ngày 01 tháng 02 năm 2018. Cháu M Anh đang sinh sống cùng với chị M. Khi ly hôn, anh T đồng ý giao con chung cho chị M yêu cầu được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Anh T không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Anh T không tranh chấp về tài sản chung, nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Nguyễn Chí T được Tòa án triệu tập để lấy lời khai và tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tham gia phiên tòa nhưng anh T có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu:

Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến khi khai mạc phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Thư ký đã tiến hành đúng, đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định. Tính đến ngày Tòa án có quyết định đưa vụ án ra xét xử, vụ án còn trong thời hạn chuẩn bị xét xử theo điểm a khoản 1 Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định pháp luật.

Về nội dung: Quá trình chung sống chị M và anh T đã phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng sống không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh tụng. Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương nhận định:

Về tố tụng: yêu cầu khởi kiện của chị M về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con, anh T có nơi cư trú cuối cùng tại ấp Long Thành, xã Long Nguyên, huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương, hiện đang chấp hành án tại Phân trại 1, Trại giam Thủ Đức, huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với bị đơn anh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia xét xử nhưng anh T có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để xét xử vắng mặt anh T theo quy định tại khoản 1 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Về hôn nhân: Chị M và anh T tự nguyện kết hôn vào năm 2017, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Lai Uyên, huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận kết hôn số 109/2017, ngày 20 tháng 11 năm 2017 nên quan hệ hôn nhân giữa chị M và anh T là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ. Chị M yêu cầu ly hôn với anh T vì mâu thuẫn vợ chồng phát sinh từ nhiều năm trước nhưng trầm trọng nhất năm 2018, chị M và anh T đã không sống chung với nhau từ năm 2018, chị M đã về nhà mẹ đẻ sinh sống. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng không hợp nhau, vợ chồng không quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Qua xác minh tại chính quyền địa phương nơi nguyên đơn và bị đơn cư trú được biết: Trong quá trình chung sống, giữa chị M và anh T có mâu thuẫn hay không thì chính quyền không nắm được. Hiện tại, chị M và anh T hiện không còn sống chung. Do đó, yêu cầu ly hôn của chị M đối với anh T là có căn cứ để chấp nhận và phù hợp với khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Chị M và anh T có 01 con chung tên Nguyễn T M Anh, sinh ngày 01 tháng 02 năm 2018, chị M yêu cầu được tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Xét thấy, cháu M Anh hiện nay dưới 7 (bảy) tuổi đang sống ổn định với chị M. Do đó, tiếp tục giao cháu M Anh cho cho chị M trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi cháu thành niên là phù hợp với Điều 81 và Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về cấp dưỡng nuôi con: trong đơn khởi kiện đề ngày 17 tháng 6 năm 2022, chị M không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi cháu M Anh. Xét thấy, việc chị M không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi cháu M Anh là tự nguyện và phù hợp nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị M và anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa về nội dung vụ án là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí dân sự sơ thẩm: yêu cầu ly hôn, tranh chấp về nuôi con của chị M đối với anh T được Tòa án chấp nhận nên theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị M phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm với mức thu là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 1 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 266; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 56, các Điều 57, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lý Lê M đối với bị đơn anh Nguyễn Chí T về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

- Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Lý Lệ M và anh Nguyễn Chí T.

- Về nuôi con chung: Giao con chung tên Nguyễn T M A, sinh ngày 01 tháng 02 năm 2018 cho chị M trực tiếp trôm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Chị M không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Anh Nguyễn Chí T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Trường hợp người không trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung.

Vì quyền lợi hợp pháp của con, Tòa án có thể thay đổi người nuôi con, giải quyết việc cấp dưỡng cho con theo quy định của pháp luật.

- Về chia tài sản chung, nợ chung: Chị Lý Lệ M và anh Nguyễn Chí T không tranh chấp nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

2. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Lý Lệ M phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số AA/2021/0009123 ngày 16 tháng 5 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương.

Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7, Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ