- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lương Thị Đào và ông Hoàng Xuân Huy đối với bị đơn bà Trần Thị Kim Loan;
- Căn cứ chính? Điều 468 Bộ luật Dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TP VŨNG TÀU CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:24/2022/DS-ST Ngày: 22-4-2022 V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản là tiền |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trịnh Hồng Phúc
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Song Hoàn
Ông Hà Văn Trường
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Lan Hương - Thư ký Tòa án nhân dân Tp.Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Tp.Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Lương Ngọc Tú - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 4 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân Tp. Vũng Tàu xét xử vụ án Dân sự sơ thẩm thụ lý số 365/2021/DSST ngày 14 tháng 12 năm 2021 về việc:“Tranh chấp hợp đồng vay tài sản là tiền”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15 /2022/QĐ -XX ngày 12 tháng 4 năm 2022, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lương Thị Đào, sinh năm 1976 và ông Hoàng Xuân Huy, sinh năm 1971
Địa chỉ: 85 B- đường Lê Thánh Tông, phường Thắng Nhất, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Trần Anh Dũng,sinh năm 1985
Địa chỉ: 138 - đường Đô Lương, phường 11, thành phố Vũng Tàu (có mặt).
- Bị đơn: Bà Trần Thị Kim Loan, sinh năm 1966
Địa chỉ: 176 - đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa, phường Thắng Tam, thành phố Vũng Tàu;
Địa chỉ cư trú: Trại giam Công an tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu (có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 24-11-2021 và qua quá trình làm việc tại Tòa đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Ngày 19-7-2018, vợ chồng bà Đào, ông Huy cho bà Loan vay số tiền là 500.000.000đ(Năm trăm triệu đồng); ngày 07-11-2019 bà Đào, ông Huy cho bà Loan vay số tiền là 20.000.000.000đ(Hai mươi tỷ đồng); ngày 10-11-2019, bà Đào, ông Huy cho bà Loan vay tiếp số tiền là 500.000.000đ(Năm trăm triệu đồng); tổng cộng 03 lần bà Đào, ông Huy cho bà Loan vay số tiền là 21.000.000.000đ(Hai mươi mốt tỷ đồng). Đền nay bà Loan vẫn chưa trả nợ gốc, nợ lãi cho bà Đào, ông Huy.
Do việc thỏa thuận trả lãi chỉ nói miệng nay nguyên đơn yêu cầu bị đơn bà Loan trả lãi theo quy định của Bộ luật dân sự là 20%/năm.
Nay nguyên đơn bà Đào ông Huy khởi kiện yêu cầu bị đơn bà Loan và chông là ông Giang Vinh phải trả số nợ gốc là 21.000.000.000đ(Hai mươi mốt tỷ đồng); nợ lãi tạm tính đến ngày 24-11-2021, là 8.208.000.000đ(Tám tỷ hai trăm lẻ tám triệu đồng).
Ngày 03-3-2022, nguyên đơn bà Đào, ông Huy xác định khoản vay này là cho bà Trần Thị Kim Loan vay do đó khoản vay này không liên quan đến ông Giang Vinh chồng bà Loan; nay bà Đào, ông Huy chỉ yêu cầu một mình bị đơn bà Loan phải trả số nợ gốc, nợ lãi.
Bị đơn: Bà Trần Thị Kim Loan xác nhận; bà Loan có vay của vợ chồng bà Đào, ông Huy 03 lần; tổng số tiền vay là 21.000.000.000đ(Hai mươi mốt tỷ đồng); số tiền này bà Loan một mình đứng ra vay và sử dụng vào mục đích kinh doanh, khoản vay này không liên quan đến ông Vinh chồng bà Loan. Bị đơn bà Loan xác nhận đến nay chưa trả nợ gốc, nợ lãi cho bà Đào, ông Huy.
Chứng cứ nguyên đơn cung cấp: 03 biên nhận mượn tiền: Giấy biên nhận mượn tiền ngày 19-7-2018, bút lục 41; giấy mượn tiền ngay7-11-2019, bút lục số 40; giấy biên nhận mượn tiền ngày 10-11-2019, bút lục số 39.
Chứng cứ bị đơn cung cấp: Không có.
Chứng cứ Tòa án thu thập: Quyết định trưng cầu giám định; kết luận giám định số 488/PC-D92, ngày 08-5-2020; biên bản hỏi cung bị can ngày 05-10-2021, có bút lục từ số 50 đến số 54.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu phát biểu:
[1]Về tố tụng: Việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán đã thực hiện đầy đủ thủ tục tố tụng trong giai đoạn sơ thẩm
Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật; Căn cứ tại các Điều 70,71 và Điều 86 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[2]Về nội dung: Căn cứ các điều; Điều 463, Điều 466, khoảng 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015:
Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đào, ông Huy; buộc bị đơn bà Loan phải trả nguyên đơn số tiền nợ gốc là 21.000.000.000đ (Hai mươi mốt tỷ đồng); số tiền nợ lãi theo mức lãi suất 20%/ năm. Đối với khoản vay 500.000.000đ (Năm trăm triệu đồng), ngày 19-7-2018, nguyên đơn bà Đào, ông Huy không yêu cầu do đó không xem xét; tổng số tiền phải chịu lãi là 20.500.000.000đ(Hai mươi tỷ năm tram triệu đồng).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên Tòa và ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu; nhận định của Tòa án:
Về tố tụng: Năm 2018, 2019, gữa nguyên đơn bà Lương Thị Đào, ông Hoàng Xuân Huy có cho bị đơn bà Trần Thị Kim Loan vay tổng cộng số tiền là 21.000.000.000đ(Hai mươi mốt tỷ đồng), nay có sự tranh chấp nên xác định đây là vụ án Dân sự “Tranh chấp hợp vay tài sản là tiền”; Căn cứ điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Bị đơn bà Trần Thị Kim Loan, có hộ khẩu thường trú tại số 176- đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa, phường Thắng Tam, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu; Căn cứ điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung: Ngày 19-7-2018, vợ chồng bà Đào, ông Huy cho bà Loan vay số tiền là 500.000.000đ(Năm trăm triệu đồng); ngày 07-11-2019 bà Đào, ông Huy cho bà Loan vay số tiền là 20.000.000.000đ(Hai mươi tỷ đồng); ngày 10-11-2019, bà Đào, ông Huy cho bà Loan vay tiếp số tiền là 500.000.000đ(Năm trăm triệu đồng); tổng cộng 03 lần bà Đào, ông Huy cho bà Loan vay số tiền là 21.000.000.000đ(Hai mươi mốt tỷ đồng).
Về chứng cứ: Nguyên đơn cung cấp: 03 biên nhận mượn tiền: Giấy biên nhận mượn tiền ngày 19-7-2018, bút lục 41; giấy mượn tiền ngày 07-11-2019, bút lục số 40; giấy biên nhận mượn tiền ngày 10-11-2019, bút lục số 39.
Bị đơn bà Trần Thị Kim Loan xác nhận các giấy biên nhận tiền trên đều do bà Loan viết, ký tên ; căn cú theo Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự, các chứng cứ đi khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn được bị đơn xác nhận do đó không cần phải chứng minh.
Chứng cứ Tòa án thu thập: Quyết định trưng cầu giám định; kết luận giám định số 488/PC-D92, ngày 08-5-2020; biên bản hỏi cung bị can ngày 05-10-2021, có bút lục từ số 50 đến số 54.
Tại phiên Tòa hôm nay người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Đào, ông Huy; ông Dũng xác nhận khởi kiện đối với bà Loan và chỉ yêu cầu một mình bà Loan phải trả số nợ.
Đối với số nợ 500.000.000đ, bà Đào, ông Huy cho bà Loan vay ngày 19-7-2018, ông Huy, bà Đào không yêu cầu bà Loan trả lãi.
Đối với số tiền vay 20.000.000.000 đồng (Hai mươi tỷ đồng), bà Đào, ông Huy cho bà Loan vay ngày 07-11-2019 và số tiền 500.000.000đ (Năm trăm triệu đồng) bà Đào, ông Huy cho bà Loan vay ngày 10-11-2019, nguyên đơn yêu cầu bà Loan phải trả lãi, với mức lãi suất 20%/năm, thời hạn tính lãi tính từ ngày vay cho đến khi bà Loan trả hết tiền nợ gốc và lãi cho nguyên đơn có căn cứ chấp nhận.
Số tiền 20.000.000.000 đồng (Hai mươi tỷ đồng); tiền lãi tính từ ngày 07-11-2019, đến ngày xét xử sơ thẩm 22-04-2022 là 898 ngày (2 năm 5 tháng 2 tuần 2 ngày):
20.000.000.000 đồng x (20%/năm : 365 ngày) x 898 ngày = 9.841.095.792đ (Chín tỷ tám trăm bốn mươi mốt triệu không trăm chín mươi lăm ngàn bảy trăm chín mươi hai đồng).
Số tiền 500.000.000 đ(Năm trăm triệu đồng); tiền lãi tính từ ngày 10-11-2019, đến ngày xét xử sơ thẩm 22-04-2022, là: 895 ngày (2 năm 5 tháng 1 tuần 6 ngày)
500.000.000 đồng x (20%/năm : 365 ngày) x 895 ngày = 245.205.477đ(Hai trăm bốn mươi lăm triệu hai trăm lẻ năm ngàn bốn trăm bảy mươi bảy đồng).
Tổng số nợ gốc, nợ lãi: 31.086.301.271đ( Ba mươi mốt tỷ không trăm tám mươi sáu triệu ba trăm lẻ một ngàn hai trăm bảy mươi mốt đồng);
Trong đó nợ gốc: 21.000.000.000đ(Hai mươi mốt tỷ đồng);
Nợ lãi là: 10.086.301.271đ(Mười tỷ không trăm tám mươi sáu triệu ba trăm lẻ một ngàn hai trăm bảy mươi mốt đồng),
Hội đồng xét xử xét thấy: Qua các chứng cứ nguyên đơn giao nộp và tài liệu, chứng cứ Tòa án thu thập khoản tiền bị đơn bà Loan vay không liên quan đến ông Giang Vinh là chồng của bà Loan, do đó trong vụ án này ông Giang Vinh không phát sinh quyền và nghĩa vụ, ông Giang Vinh không có nghĩa vụ trả nợ cho bà Đào, ông Huy.
Từ những chứng cứ trên Hội đồng xét xử có đủ căn cứ nhận định: Giữa nguyên đơn bà Đào, ông Huy và bị đơn bà Loan có xác lập 03 hợp đồng vay tài sản, ngày 19-7-2018, vợ chồng bà Đào, ông Huy cho bà Loan vay số tiền là 500.000.000đ(Năm trăm triệu đồng); ngày 07-11-2019 bà Đào, ông Huy cho bà Loan vay số tiền là 20.000.000.000đ(Hai mươi tỷ đồng); ngày 10-11-2019, bà Đào, ông Huy cho bà Loan vay tiếp số tiền là 500.000.000đ(Năm trăm triệu đồng); tổng cộng 03 lần bà Đào, ông Huy cho bà Loan vay số tiền là 21.000.000.000đ(Hai mươi mốt tỷ đồng).
Tới ngày xét xử bị đơn bà Loan chưa trả nợ gốc, nợ lãi cho bà Đào, ông Huy; bị đơn bà Loan và nguyên đơn bà Đào ông Huy thỏa thuận về lãi suất không rõ nay xảy ra tranh chấp phía nguyên đơn đề nghị áp dụng mức lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, là 20%/năm là có căn cứ để chấp nhận.
Tại phiên Tòa hôm nay đại diện nguyên đơn giữ nguyên ý kiến không yêu cầu bà Loan phải lãi đối với số tiền 500.000.000đ( Năm trăm triệu đồng), bà Loan vay của bà Đào, ông Huy ngày 19-7-2018, xét thấy có lợi cho bà Loan nên không xem xét.
Hội đồng xét xử xét thấy; Có đủ căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lương Thị Đào và ông Hoàng Xuân Huy đối với bị đơn bà Trần Thị Kim Loan về việc “Tranh chấp hợp vay tài sản là tiền”; buộc bà Trần Thị Kim Loan phải trả bà Lương Thị Đào, ông Hoàng Xuân Huy; tổng số nợ gốc, nợ lãi là 31.086.301.271đ( Ba mươi mốt tỷ không trăm tám mươi sáu triệu ba trăm lẻ một ngàn hai trăm bảy mươi mốt đồng);
Trong đó nợ gốc: 21.000.000.000đ(Hai mươi mốt tỷ đồng);
Nợ lãi là: 10.086.301.271đ(Mười tỷ không trăm tám mươi sáu triệu ba trăm lẻ một ngàn hai trăm bảy mươi mốt đồng).
Đối với yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời ngày 24-11-2021, của nguyên đơn bà Đào, ông Huy về việc phong tỏa tài sản là quyền sử dụng đất của người có nghĩa vụ bị đơn bà Loan; hội đồng xét xử xét thấy các tài sản là quyền sử dụng đất của bị đơn bà Loan đã được Phòng cảnh sát hình sự công an tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu phong tỏa do đó không cần thiết áp dụng việc phong tỏa tài sản.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, nếu bên phải thi hành án chậm thi hành nghĩa vụ phải thực hiện thì bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền chậm thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Về án phí DSST: Do Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bị đơn bà Trần Thị Kim Loan phải chịu toàn bộ án phí là 139.086.301đ( Một trăm ba mươi chín triệu không trăm tám mươi sáu ngàn ba trăm lẻ một đồng).
Cách tính án phí (từ trên 4.000.000.000đ là 112.000.000đ + 0,1% của phần giá trị tranh chấp vượt quá 4.000.000.000đ).
Nguyên đơn bà Đào, ông Huy được hoàn trả lại số tiền tạm ứng án phí 68.706.000đ (Sáu mươi tám triệu bảy trăm lẻ sáu ngàn đồng), theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001492 ngày 08-12-2021 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các điều: Điều 26, Điều 35, Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 466; khoản 1, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lương Thị Đào và ông Hoàng Xuân Huy đối với bị đơn bà Trần Thị Kim Loan;
[1] Buộc bị đơn bà Trần Thị Kim Loan có nghĩa vụ trả số nợ là 31.086.301.271đ (Ba mươi mốt tỷ không trăm tám mươi sáu triệu ba trăm lẻ một ngàn hai trăm bảy mươi mốt đồng), cho nguyên đơn bà Lương Thị Đào và ông Hoàng Xuân Huy.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, nếu bên phải thi hành án chậm thi hành nghĩa vụ phải thực hiện thì bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền chậm thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
[2]Án phí DSST: Bị đơn bà Trần Thị Kim Loan phải chịu là là 139.086.301đ( Một trăm ba mươi chín triệu không trăm tám mươi sáu ngàn ba trăm lẻ một đồng).
[3] Nguyên đơn bà Lương Thị Đào và ông Hoàng Xuân Huy được hoàn trả lại số tiền tạm ứng án phí 68.706.000đ (Sáu mươi tám triệu bảy trăm lẻ sáu ngàn đồng), theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001492 ngày 08-12-2021, của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu.
[4] Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt là 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
[5] Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nơi nhận:
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Các đương sự;
- Tòa án nhân dân tỉnh BR-VT;
- Viện kiểm sát nhân dân Tp-VT ;
- Chi cục Thi hành án dân sự Tp- VT;
- Lưu hồ sơ.
Trịnh Hồng Phúc
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
TM.HOÄI ÑOÀNG XEÙT XÖÛ SÔ THAÅM
THAÅM PHAÙN - CHUÛ TOÏA PHIEÂN TOØA
| Nơi nhận: - Tòa án ND tỉnh BR-VT - Viện kiểm sát ND Tp-VT - Các đương sự; - Thi hành án dân sự Tp- VT - Lưu hồ sơ. |