- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "bản án Lê Thị T - Lê Thị Mai H"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị T về tranh chấp hợp đồng vay tài sản và hụi.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM MỸ TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 24/2022/ DS - ST Ngày: 22/7/2022 V/v: “tranh chấp hợp đồng vay tài sản và hụi” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
---------
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM MỸ - TỈNH ĐỒNG NAI
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Trung
Các Hội thẩm nhân dân:- Ông Lê Đức Dũng
- Ông Hồ Viết Ân
Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Bích – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên toà: bà Phạm Thị Diệp – Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 7 năm 2022, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Cẩm Mỹ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 49/2022/TLST - DS ngày 01 tháng 3 năm 2022 về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản và hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2022/QĐXXST – DS ngày 04 tháng 7 năm 2022 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: bà Lê Thị T, sinh năm: 1955 (vắng mặt)
Địa chỉ: ấp 1, xã XĐ, huyện CM, tỉnh Đồng Nai.
- Bị đơn: bà Lê Thị Mai H, sinh năm 1960 (vắng mặt)
Địa chỉ: khu 1 ấp 1, xã XĐ, huyện CM, tỉnh Đồng Nai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và biên bản lấy lời khai, nguyên đơn bà Lê Thị T trình bày: Bà tham gia chơi các dây hụi do bà Lê Thị Mai H làm chủ hụi như sau:
Dây hụi thứ nhất: mở ngày 30/5/2020, bà có tham gia 15 chân hụi, dây hụi này có 30 người chơi, hụi 500.000 đồng, một tháng đóng 02 lần vào ngày 15 và 30 hàng tháng. Bà đã đóng hụi cho đến ngày 30/6/2021 là 159.000.000 đồng tiền gốc. Đồng thời bà chưa hốt tất cả 15 chân hụi này.
Dây hụi thứ hai: mở ngày 10/01/2021, bà tham gia chơi 02 chân hụi lương 2.000.000 đồng, hình thức góp hụi tháng góp 01 lần, dây hụi này có 16 chân hụi. Bà đã đóng cho bà H 06 tháng là 17.200.000 đồng. Bà chưa hốt 02 chân hụi này.
Dây hụi thứ ba: mở ngày 10/01/2021, bà chồng theo 03 chân, hụi tháng, mỗi tháng 2.000.000 đồng. Bà đã đóng là 60.000.000 đồng và chưa hốt 03 chân hụi này.
Tổng số tiền hụi bà đã đóng cho bà H là 236.200.000 đồng tiền gốc chưa tính tiền lãi
Ngày 15/5/2020 bà cho bà H vay 250.000.000 đồng. Khi vay các bên có lập hợp đồng công chứng tại Văn phòng công chứng Trần Thị Trúc Linh. Thỏa thuận thời hạn trả tiền gốc là ngày 15/5/2022 và tiền lãi là trả hàng tháng. Tuy nhiên, từ tháng 6/2021 cho đến nay thì bà H không trả lãi cho bà nữa nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngày 07/11/2021, con gái bà H trả thay cho bà H trả cho bà số tiền 35.000.000 đồng.
Tổng số tiền hụi và tiền vay mà bà H còn nợ bà là 451.200.000 đồng.
Nay bà yêu cầu bà H phải trả 451.200.000 đồng và không yêu cầu lãi suất.
* Tại bản tự khai và biên bản lấy lời khai bà Lê Thị Mai H trình bày: Bà không nhớ cụ thể từng dây hụi và chân hụi bà T tham gia chơi do bà làm chủ hụi. Sau đó, bà và bà T chốt lại số tiền hụi bà còn nợ lại của bà T là 236.200.000 đồng. Bà không nhớ cụ thể ngày tháng năm chốt lại số tiền hụi giữa bà và bà T. Ngày 07/11/2021 thì bà có trả cho bà T 35.000.000 đồng, số tiền hụi bà còn nợ lại bà T là 201.200.000 đồng.
Ngoài ra, ngày 15/5/2020, bà vay của bà T 250.000.000 đồng, khi vay các bên lập hợp đồng và được công chứng tại Văn phòng công chứng Trần Thị Trúc Linh, thỏa thuận tiền lãi là 3,5% tháng. Bà không nhớ thỏa thuận thời hạn trả tiền gốc khi nào. Bà đã trả tiền lãi cho bà T đến tháng 7/2021 thì không trả tiền lãi nữa, mỗi tháng trả 8.750.000 đồng. Bà chưa trả tiền gốc cho bà T. Bà xác định còn nợ lại bà T 250.000.000 đồng tiền gốc.
Tổng số tiền hụi và tiền vay bà còn nợ bà Nhung là 451.200.000 đồng.
Nay đối với yêu cầu của bà T thì bà không đồng ý trả vì không có khả năng trả tiền.
* Tại phiên toà Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ phát biểu ý kiến:
+ Việc tuân theo pháp luật thủ tục tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án và của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng quy định pháp luật.
+ Về nội dung vụ án: chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Buộc bà Lê Thị Mai H phải trả cho bà Lê Thị T 451.200.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật: bà Lê Thị T khởi kiện bà Lê Thị Mai H yêu cầu bà H phải trả tiền hụi và tiền vay nên quan hệ pháp luật là: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản và hụi” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
Về thủ tục tố tụng: nguyên đơn và bị đơn có đơn xin giải quyết và xét xử vắng mặt. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn là phù hợp.
Về nội dung tranh chấp:
Bà T trình bày là bà có tham gia 03 dây hụi do bà H làm chủ và đã đóng cho bà H 236.200.000 đồng. Tất cả các chân hụi bà T chưa hốt và số tiền 236.200.000 đồng là tiền gốc bà T đã đóng cho bà H chưa tính tiền lãi. Ngày 07/11/2021 bà H đã trả cho bà T được 35.000.000 đồng nên số tiền hụi bà H còn nợ bà T là 201.200.000 đồng. Bị đơn bà Lê Thị Mai H trình bày bà T có tham gia chơi hụi do bà H làm chủ nhưng không nhớ cụ thể từng dây hụi. Bà H cũng thống nhất với bà T là số tiền bà T đã đóng hụi cho bà H là 236.200.000 đồng, ngày 07/11/2021 thì bà H đã trả cho bà T 35.000.000 đồng nên số tiền bà H còn nợ lại của bà T là 201.200.000 đồng. Bà H không đồng ý trả cho bà T vì không có khả năng trả tiền.
Ngoài ra, bà T còn trình bày: Ngày 15/5/2020 bà T cho bà H vay 250.000.000 đồng, khi vay các bên có lập hợp đồng và công chứng hợp đồng tại Văn phòng công chứng Trần Thị Trúc Linh. Thời hạn trả nợ là 15/5/2022, tiền lãi trả hàng tháng nhưng đến tháng 6/2021 thì bà H không trả tiền lãi cho bà T nên bà T yêu cầu Tòa án giải quyết. Bà H cũng thống nhất với bà T là bà H vay của bà T 250.000.000 đồng, tuy bà H có đóng tiền lãi nhưng đến nay bà H vẫn còn nợ lại bà T 250.000.000 đồng tiền gốc.
Xét thấy các bên thống nhất số tiền bà H còn nợ bà T cả tiền vay và tiền hụi là 451.200.000 đồng, bà H không đồng ý trả cho bà T là vì không có khả năng trả tiền nên chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà T.
Đối với yêu cầu tính lãi suất: Nguyên đơn không yêu cầu nên không xem xét.
Về án phí: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ nên bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm là 22.048.000 đồng.
Nguyên đơn được miễn nộp tiền tạm ứng án phí nên không hoàn trả tiền tạm ứng án phí.
Xét thấy quan điểm của đại diện VKS phù hợp với nhận định của HĐXX nên được chấp thuận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ các Điều 466, Điều 471 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị T về tranh chấp hợp đồng vay tài sản và hụi.
1.Buộc bà Lê Thị Mai H phải có nghĩa vụ thanh toán cho bà Lê Thị T 451.200.000 (Bốn trăm năm mươi mốt triệu hai trăm ngàn) đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
2.Về án phí: bà Lê Thị Mai H phải chịu 22.048.000 (Hai mươi hai triệu không trăm bốn mươi tám ngàn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Nguyên đơn và bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014)./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Nai - Viện kiểm sát H. Cẩm Mỹ; - VKSND tỉnh Đồng Nai; - Chi cục THADS huyện Cẩm Mỹ; - Đương sự; - Lưu án văn; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Mai Trung |