- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Quốc D - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1] Tuyên bố: Bị cáo Trần Quốc D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 24/2021/HSST Ngày: 22/6/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hoài Xuân
Các Hội thẩm nhân dân: + Ông Đặng Thành Trưng
+ Ông Đào Văn Hòa
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Mỹ Tiên - Thư ký TAND tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định tham gia phiên toà:
Ông Nguyễn Xuân Hợp - Kiểm sát viên
Ngày 22 tháng 6 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 20/2021/TLST-HS ngày 07/5/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 100/2021/QĐXXST-HS ngày 08/6/2021 đối với bị cáo:
TRẦN QUỐC D - sinh năm: 2000 tại Bình Định; nơi cư trú: Thôn BTT, xã MH, huyện PM, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Đình N, sinh năm 1969 và bà Trần Thị Kim C, sinh năm 1970; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/3/2021. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ 15 phút ngày 05/3/2021, tổ công tác thuộc Phòng cảnh sát tội phạm về ma túy Công an tỉnh Bình Định bắt quả tang Trần Quốc D đang đứng tại đường VL thuộc khu vực 5, phường GR, TP.QN có biểu hiện nghi vấn, nên tiến hành kiểm tra hành chính thì phát hiện trong người có 01 gói ni lông kích thước (05x06) cm, bên trong chứa: 01 gói ni lông hàn kín bốn góc, bên trong chứa hạt tinh thể không màu, dạng rắn; 03 viên nén màu nâu, hình trụ tròn nên Cơ quan điều tra tiến hành lập biên bản phạm tội bắt quả tang và thu giữ những đồ vật nêu trên.
Quá trình điều tra, Trần Quốc D khai nhận về nguồn gốc các chất ma túy mà D đã tàng trữ là mua của người đàn ông tên N (không rõ lai lịch cụ thể) với giá 03 viên “thuốc lắc” là 900.000đ và nửa hộp năm “khay” với giá 2.000.000đ, tổng cộng 2.900.000đ. Sau khi mua xong, Trần Quốc D đem đến đường VL, thuộc khu vực 5, phường GR, TP.QN để sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang. Ngoài ra, trong quá trình điều tra Trần Quốc D còn khai nhận: Ngoài lần bị bắt quả tang D còn mua 02 viên thuốc lắc và nửa hộp năm “khay” với số tiền 2.600.000đ và đã sử dụng hết.
Ngày 09/03/2021 Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Định kết luận: 01 bì ni lông hàn kín bốn góc, bên trong chứa hạt tinh thể không màu, dạng rắn thu được ở trên là ma túy có khối lượng 1,2469 gam, loại Ketamime; 03 viên nén màu nâu, hình trụ tròn đều là ma túy có tổng khối lượng 1,0563gam, loại MDMA.
Tại bản cáo trạng số 28/CT-VKSBĐ-P1 ngày 07/5/2021 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định đã truy tố bị cáo Trần Quốc D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 BLHS.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Trần Quốc D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng: Điểm i khoản 1 Điều 249; điểm r, s khoản 1 Điều 51 BLHS.
- Xử phạt: Bị cáo Trần Quốc D từ 9 đến 12 tháng tù.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS.
+ Tịch thu tiêu hủy: Khối lượng ma túy cơ quan điều tra đã thu giữ có trong biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan cảnh sát điều tra và Chi cục thi hành án dân sự tỉnh Bình Định.
+ Trả lại cho bị cáo: 01 (một) điện thoại di động màu trắng, có chữ IPHONE.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/5/2021 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Bình Định).
Bị cáo không bào chữa, không tranh luận, xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Bình Định, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ nên có đủ cơ sở xác định:
Ngày 05/3/2021, Trần Quốc D đang cất giấu trong người 1,2469 gam Ketamime và 1,0563 gam MDMA nhằm mục đích sử dụng thì bị bắt quả tang.
Do đó, hành vi nêu trên của bị cáo Trần Quốc D đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 BLHS như Bản cáo trạng số 28/CT-VKSBĐ-P1 ngày 07/5/2021 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định đã truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
Bị cáo Trần Quốc D có đầy đủ lý trí để nhận thức về tác hại của ma túy đối với sức khỏe con người nhưng vì ham chơi đua đòi và để thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy nên bị cáo đã mua ma túy về cất giấu và sử dụng. Hành vi của bị cáo không chỉ xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma tuý mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Do đó cần phải xử lý nghiêm minh bằng pháp luật hình sự để răn đe giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm.
Các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Các tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
- Các tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo Trần Quốc D thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS;
Phần xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT đã thu giữ:
- Vỏ, bao bì đựng mẫu vật còn lại gồm 0,7072 gam mẫu A1 và 0,8242 gam mẫu A2 còn lại sau giám định. Đây là vật chứng vụ án không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
- 01 (một) điện thoại di động màu trắng, có chữ IPHONE là tài sản của bị cáo Trần Quốc D nên trả lại cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định luận tội và đề nghị hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, “người phạm tội tự thú” quy định tại các điểm r, s khoản 1 Điều 51 BLHS, hội đồng xét xử thấy rằng quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội sau khi bị cơ quan điều tra bắt quả tang bị cáo đang cất giấu ma túy, sau đó bị cáo khai ngoài lần bị bắt quả tang này bị cáo còn mua 02 viên thuốc lắc và nửa hộp năm “khay” về để sử dụng và bị cáo đã sử dụng hết. Tuy nhiên, ngoài lời khai của bị cáo không có chứng cứ nào khác để chứng minh. Do đó, Kiểm sát viên đề nghị hội đồng xét xử cho bị cáo được áp dụng tình tiết “người phạm tội tự thú” quy định tại điểm r Điều 51 BLHS là không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
Về án phí: Bị cáo Trần Quốc D phải chịu theo quy định của BLTTHS và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vấn đề khác:
Về nguồn gốc ma túy, Trần Quốc D đã khai mua của một người đàn ông tên N (không rõ họ, địa chỉ), cơ quan điều tra không có cơ sở để xác minh nên không đủ căn cứ để xử lý.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Tuyên bố: Bị cáo Trần Quốc D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ vào: Điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.
- Xử phạt: Bị cáo Trần Quốc D 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam 05/3/2021.
[2] Về phần xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS.
- Tịch thu tiêu hủy:
01(một) phong bì số 75/PC09 bên ngoài có ghi:
Hoàn lại đối tượng giám định gồm: Vỏ, bao bì đựng mẫu vật còn lại sau giám định; 0,7072 gam mẫu A1 và 0,8242 gam mẫu A2 còn lại sau giám định. Có đóng dấu tròn niêm phong của phòng Kỹ Thuật Hình Sự Công an Tỉnh Bình Định.
- Trả lại cho bị cáo Trần Quốc D: 01 (một) điện thoại di động màu trắng, có chữ IPHONE, số IMEI: 354839090014120, đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng bên trong.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/5/2021 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Bình Định).
[3] Về án phí HSST: Bị cáo Trần Quốc D phải chịu 200.000 đồng.
[4] Quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo Trần Quốc D có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - Vụ GĐKT 1 - TAND tối cao; - VKSND cấp cao tại Đà Nẵng; - VKSND tỉnh Bình Định; - Trại tạm giam Công an tỉnh Bình Định; - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Bình Định; - Cơ quan THAHS&HTTP Công an tỉnh Bình Định; - Cơ quan HSNV Công an tỉnh Bình Định; - Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Định; - Sở tư pháp tỉnh Bình Định; - Phòng KTNV&THA tỉnh Bình Định - Người tham gia tố tụng; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Hoài Xuân |