vanban.org

Bản án 24/2021/HSPT — Hình sự

TAND tỉnh Gia Lai Tuyên án 16/06/2021 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 16/06/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1]. Không chấp nhận háng cáo c a các bị cáo Nay H, Rah Lan C, Ksor S ; Giữ nguyên bản án sơ thẩm về phần hình phạt:

Xử phạt bị cáo Nay H: 02 (hai) năm tù về tội “Huỷ hoại rừng”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại để chấp hành án. Xử phạt bị cáo Rah Lan C: 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Huỷ hoại rừng”.Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại để chấp hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nay H - phạm tội hủy hoại rừng (điều 243 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1]. Không chấp nhận háng cáo c a các bị cáo Nay H, Rah Lan C, Ksor S ; Giữ nguyên bản án sơ thẩm về phần hình phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 54 Bộ luật Hình sự xử; Điều 58 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2021/HS - PT
Ngày 16 – 6 – 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Bình.

Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Kim Hồng; Ông Lê Văn Hà.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Việt Anh - Thư T a án c a T a án nhân dân tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai: Bà Đinh Ê Ban Mỹ - Kiểm sát viên trung cấp.

Ngày 16 tháng 6 năm 2021, tại trụ sở T a án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm công hai vụ án hình sự phúc thẩm thụ l số: 34/2021/TLPT - HS ngày 24 tháng 5 năm 2021 đối với bị cáo Nay H và đồng phạm do có háng cáo c a các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 18/2021/HS - ST ngày 15 tháng 4 năm 2021 c a T a án nhân dân huyện K, tỉnh Gia Lai.

- Bị cáo có kháng cáo:

1. Nay H (tên gọi hác: Dôn Tung), sinh năm 1973 tại huyện K, Gia Lai; Nơi cư trú: Buôn H’Mu , xã Ch, huyện K, Gia Lai; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 0/12; dân tộc: Jrai; giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Kpă D1 (đã chết) và bà Nay H1; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp Cấm đi hỏi nơi cư trú. Có mặt.

2. Ksor S(tên gọi hác: Ama Bép), sinh năm 1982 tại huyện K, Gia Lai; Nơi cư trú: Buôn DJrét, xã Ch, huyện K, Gia Lai; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 0/12; dân tộc: Jrai; giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Kpă V2 và bà Ksor H’B2; có vợ là Kpă H’K2, sinh năm 1978 và có 03 con, con nhỏ nhất sinh năm 2011; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp Cấm đi

hỏi nơi cư trú. Có mặt.

3. Rah Lan C, sinh năm 1986 tại huyện K, Gia Lai; Nơi cư trú: Buôn DJrét, xã Ch, huyện K, Gia Lai; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 0/12; dân tộc: Jrai; Giới tính: Nam; tôn giáo: Không; cha: hông rõ, mẹ bà Rah Lan H’N3 (đã chết); có vợ là Ksor H’B3, sinh năm 1977 và có 01 con sinh năm 1999; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp Cấm đi hỏi nơi cư trú. Có mặt.

- Người bào chữa cho các bị cáo: Ông Vi Mạnh H4 – Luật sư, cộng tác viên c a Trung tâm trợ giúp pháp l Nhà nước tỉnh Gia Lai. Có mặt.

- Người phiên dịch tiếng Jarai: Bà Nay H’Yan, công tác tại Uỷ ban nhân dân xã A, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Quá trình điều tra, xác định được. Do trước đó, Nay Hđã làm cỏ mỳ theo phương thức đổi công với Rah Lan C và Ksor S. Nên vào hoảng tháng 03/2019, Nay H đã gọi Rah Lan C, Ksor S làm trả công cho mình bằng cách vừa chỉ dẫn, vừa cùng C và S dùng cưa xăng, dao rựa cắt hạ cây gỗ rừng tự nhiên trái phép trong hoảng 01 ngày, nhằm mục đích để lấy đất sản xuất, với hình thức hai thác trắng tại lô 4, hoảnh 3, tiểu hu 1419 lâm phần BQLRPH Nam Sông Ba thuộc địa giới hành chính xã Ia Rmok.

Ngày 15/5/2020, Hạt iểm lâm huyện K phối hợp với Ban QLRPH Nam Sông Ba, Cơ quan điều tra, Viện iểm sát tiến hành hám nghiệm hiện trường rừng bị chặt phá. Đối chiếu bản đồ quy hoạch 3 loại rừng theo Nghị quyết số 100/NQ-HĐND ngày 07/12/2017 c a Hội đồng nhân dân tỉnh Gia Lai để xác định vị trí, loại rừng, hối lượng gỗ, c i bị thiệt hại thực tế tại hiện trường như sau: Địa điểm phá rừng tại lô 4, hoảnh 3, tiểu hu 1419; loại rừng sản xuất, trạng thái rừng thường xanh nghèo (TXN) thuộc Ban quản l rừng Ph ng hộ Nam Sông Ba quản l . Tại thời điểm iểm tra, xác minh các vết chặt nhận thấy dụng cụ chặt hạ bằng cưa xăng, dao rựa; hình thức chặt trắng; Một phần diện tích thân, cành, ngọn cây được gom đốt nhưng chưa cháy hết; cây bị chặt có đường ính gốc từ 10cm-57cm, chiều cao gốc chặt từ 30cm-90cm, c n nằm ngổn ngang tại hiện trường cành lá đã hô; Loại cây bị chặt ch yếu là Bằng lăng, Bình linh, Dầu, Thành ngạnh, Kơ nia, Kháo, Trám trắng SP5. Thời gian chặt hạ hoảng tháng 03/2019. Diện tích rừng bị chặt phá là 13.000 m2. Tiến hành đo đếm các gốc cây bị chặt phá, lập biểu tính lâm sản bị thiệt hại trên diện tích rừng bị phá trái phép, gỗ tr n nhóm III-VII có hối lượng: 14,033m3, c i nhóm III-VII, có hối lượng: 1,310 Ster.

Tại bản Kết luận định giá số: 29/KL-HĐĐG ngày 15/7/2020, c a Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện K, ết luận: thiệt hại về lâm sản là 29.927.052 đồng và thiệt hại về môi trường rừng là 11.672.000 đồng. Tổng giá trị thiệt hại trên diện tích rừng bị phá trái phép 13.000m2 là 41.599.052 đồng (Bốn mươi mốt triệu năm trăm chín mươi chín ngàn không trăm năm mươi hai đồng).

Tại bản Cáo trạng số 14/CT-VKS, ngày 19 tháng 02 năm 2021, Viện iểm sát nhân dân huyện K đã truy tố các bị cáo Nay H, Rah Lan C, Ksor S trước Toà án nhân dân huyện K, tỉnh Gia Lai để xét xử về tội “Hủy hoại rừng” theo quy định tại điểm đ hoản 2 Điều 243 c a Bộ luật Hình sự.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 18/2021/HS - ST ngày 15 tháng 4 năm 2021 c a T a án nhân dân huyện K, tỉnh Gia Lai đã quyết định:

- Tuyên bố bị cáo Nay H, Rah Lan C, Ksor Sphạm tội “Hủy hoại rừng”.

- Áp dụng điểm đ hoản 2 Điều 243; điểm b, s hoản 1, hoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 58 c a Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nay H 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại để chấp hành án.

Xử phạt bị cáo Rah Lan C 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại để chấp hành án.

Xử phạt bị cáo Ksor S 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại để chấp hành án.

Bản án c n tuyền về xử l bồi thường dân sự, xử l vật chứng, nghĩa vụ chịu án phí, tuyên quyền háng cáo bản án theo quy định c a pháp luật.

Sau hi xét xử sơ thẩm, ngày 22/4/2021 các bị cáo háng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.

2.Diễn biến tại phiên toà:

Tại phiên toà, các bị cáo vẫn giữ nguyên nội dung háng cáo.

-Quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên thể hiện như sau:

Toà án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nay H, Rah Lan C, Ksor S về tội “Hủy hoại rừng” theo điểm đ hoản 2 Điều 243 c a Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật; Khi lượng hình, Toà án cấp sơ thẩm áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s hoản 1, hoản 2 Điều 51 c a Bộ luật, áp dụng Điều 54 c a Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nay H02 (hai) năm tù, bị cáo Rah Lan C, Ksor Smỗi bị cáo hình phạt 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù là phù hợp, có tính phân hoá, tương xứng với vai tr , tính chất, mức độ c a hành vi mà các bị cáo đã thực hiện.Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm, các bị cáo đã bồi thường toàn bộ số tiền 35.599.052 đồng cho Ban Quản l rừng ph ng hộ Nam Sông Ba, việc này thể hiện thái độ ăn năn, hối cải c a các bị cáo. Tuy nhiên, căn cứ vào tính chất, mức độ c a hành vi, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, yêu cầu đấu tranh ph ng chống tội phạm này ở địa phương thấy rằng hình phạt mà cấp sơ thẩm đã tuyên phạt các bị cáo là phù hợp, thoả đáng, nên hông chấp nhận háng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo c a các bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a hoản 1 Điều 355, Điều 356 c a Bộ luật Tố tụng hình sự: Không chấp nhận háng cáo c a các bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt đối với các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

.Về hành vi phạm tội c a bị cáo:

Tại phiên toà các bị cáo Nay H, Rah Lan C, Ksor S hai nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời hai trong quá trình điều tra, tại phiên toà sơ thẩm, và các chứng cứ tài liệu hác có tại hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên toà. Đ cơ sở hẳng định: Vào tháng 03/2019, Nay H cùng với Rah Lan C, Ksor Sđã có hành vi chặt hạ rừng trái phép để làm nương rẫy với tổng diện tích 13.000 m2 , loại rừng sản xuất, trạng thái rừng thường xanh nghèo (TXN), vị trí tại lô 4, hoảnh 3, tiểu hu 1419 thuộc lâm phần quản l c a Ban quản l rừng Ph ng hộ Nam Sông Ba, gây thiệt hại về lâm sản là 29.927.052 đồng, thiệt hại về môi trường rừng là 11.672.000 đồng. Hành vi c a các bị cáo đã xâm phạm đến chế độ quản l rừng c a Nhà nước, xâm phạm nghiêm trọng đến môi trường sinh thái, gây ra những hậu quả nghiêm trọng hác cho đời sống xã hội. Do đó, Toà án cấp sơ thẩm đã xét xử các bị cáo về tội “Huỷ hoại rừng” theo quy định tại điểm đ hoản 2 Điều 243 c a Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng pháp luật.

. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo c a các bị cáo, thấy rằng:

Đối với háng cáo xin giảm nhẹ hình phạt: Trong vụ án này, có nhiều bị cáo phạm tội nhưng tính chất chỉ là đồng phạm giản đơn, trong đó, hành vi c a bị cáo Nay H là nguy hiểm nhất, bị cáo đã r rê, chỉ dẫn cho Rah Lan C, Ksor Scùng chặt hạ cây rừng để bị cáo có đất làm nương rẫy, bị cáo Lan C , Ksor Scó vai tr như nhau và ít nguy hiểm hơn bị cáo Nay H . Xét thấy, trước hi xét xử mỗi bị cáo chỉ bồi thường thiệt hại 2.000.000đồng là hông đáng ể so với thiệt hại đã gây ra, khi lượng hình đã được Toà án cấp sơ thẩm cũng đã áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s hoản 1, hoản 2 Điều 51 c a Bộ luật Hình sự, áp dụng Điều 54 c a Bộ luật Hình sự xử bị cáo Nay H 02 (hai) năm tù, bị cáo Rah Lan C, Ksor S mỗi bị cáo hình phạt 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù là dưới mức thấp nhất c a hung hình phạt, có tính phân hoá, tương xứng với vai tr , tính chất, mức độ nguy hiểm c a hành vi, nhân thân và nhận thức c a các bị cáo, đảm bảo tách dụng răn đe, giáo dục riêng và ph ng ngừa chung. Trong giai đoạn xét xử phúc thẩm, các bị cáo tiếp tục bồi thường toàn bộ thiệt hại cho Ban quản l rừng ph ng hộ Nam Sông Ba số tiền 35.599.052 đồng, đây là tình tiết mới, tuy nhiên như đã nêu và nhận định ở trên, tình tiết này đã được áp dụng ở cấp sơ thẩm, vì mức hình phạt mà toà án cấp sơ thẩm đã tuyên phạt đối với các bị cáo là phù hợp, nên Hội đồng xét xử hông chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt c a các bị cáo.

Đối với háng cáo xin hưởng án treo c a các bị cáo, thấy rằng: Tội phạm huỷ hoại rừng mà các bị cáo đã thực hiện đang có diễn biến phức tạp tại các địa phương trong tỉnh, xâm phạm nghiêm trọng đến tài nguyên rừng, vì vậy việc cho các bị cáo được hưởng án treo sẽ hông đáp ứng được yêu cầu ph ng chống loại tội phạm này tại địa phương,nên Hội đồng xét xử hông chấp nhận nội dung háng cáo này c a các bị cáo.

. Các quyết định hác c a bản án sơ thẩm hông có háng cáo, hông bị háng nghị có hiệu lực pháp luật ể từ ngày hết thời hạn háng cáo, háng nghị.

. Miễn án phí hình sự phúc thẩm cho các bị cáo.

Vì các lẽ trên,

Căn cứ điểm a hoản 1 Điều 355, Điều 356 c a Bộ luật Tố tụng hình sự;

QUYẾT ĐỊNH:

[1]. Không chấp nhận háng cáo c a các bị cáo Nay H, Rah Lan C, Ksor S ; Giữ nguyên bản án sơ thẩm về phần hình phạt:

- Áp dụng điểm đ hoản 2 Điều 243; điểm b, s hoản 1, hoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 58 c a Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nay H: 02 (hai) năm tù về tội “Huỷ hoại rừng”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại để chấp hành án.

Xử phạt bị cáo Rah Lan C: 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Huỷ hoại rừng”.Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại để chấp hành án.

Xử phạt bị cáo Ksor S : 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Huỷ hoại rừng”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại để chấp hành án.

[2].Về án phí: Áp dụng hoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ hoản 1 Điều 12, điểm đ hoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326-2016-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 c a Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Toà án:

Miễn án phí hình sự phúc thẩm cho các bị cáo.

[3]. Các quyết định hác c a bản án sơ thẩm hông có háng cáo, háng nghị có hiệu lực pháp luật ể từ ngày hết thời hạn háng cáo, háng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật ể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ