- Tranh chấp gì? án hình sự — "hình sự - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Võ Thị Như N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 24/2021/HS-ST Ngày: 18-03-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Châu Nữ Thu Hân.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Hồng Thơ.
Ông Nguyễn Đình Đoan Hùng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Lệ Huyên – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố CL, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Hữu Phú– Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 03 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 10/2021/TLST-HS ngày 22 tháng 01 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 62/2021/QĐXXST-HS ngày 3/3/2021 đối với bị cáo:
Họ và tên: Võ Thị Như N; sinh năm 1998, tại Đồng Tháp; Hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Tổ A, ấp B, xã C, thành phố CL, tỉnh Đồng Tháp; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Võ Đức M và bà Võ Thị B (chết); có chồng Lâm Duy L và 01 người con sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: Không; Biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 12 giờ 00 ngày 20/9/2020, tại khu vực quầy tiếp tân nhà trọ “Quang NG” thuộc `, thành phố CL, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về hình sự, kinh tế và ma túy tỉnh Đồng Tháp phối hợp cùng Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về hình sự, kinh tế và ma túy Công an thành phố Cao Lãnh và Công an xã Mỹ Tân tiến hành kiểm tra phát hiện, bắt quả tang Võ Thị Như N đang tàng trữ trái phép chất ma túy, tạm giữ tang vật:
Trong túi quần phía trước bên phải 01 bịch nylon màu trắng hàn kín bên trong chứa nhiều tinh thể rắn màu trắng, được niêm phong trong một phong bì màu trắng có in chữ “CÔNG AN THÀNH PHỐ CAO LÃNH”, đóng dấu Công an xã M và các chữ ký ghi họ tên người chứng kiến ông Hồ Tấn L và người bị bắt Võ Thị Như N.
Căn cứ Kết luận giám định số 875/KL-KTHS ngày 22/9/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Đồng Tháp, kết luận: Tinh thể rắn chứa trong bịch nylon màu trắng hàn kín, được niêm phong trong phong bì nêu trên gửi giám định là chất ma túy loại Methamphetamine, có khối lượng 0,476 gam (niêm phong 0,398 gam ma túy Methamphetamine còn lại sau giám định trong phong bì ký hiệu số 895 ngày 20/9/2020 và hoàn lại cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Lãnh xử lý).
Kết quả xác định tình trạng nghiện của Võ Thị Như N dương tính với ma túy Methamphetamine.
Tại biên bản bắt người phạm tội quả tang và trong quá trình điều tra Võ Thị Như N thừa nhận: Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên sáng ngày 20/9/2020, Võ Thị Như N liên lạc với Lương Thanh Ng (tên gọi khác T Cá Mập), sinh năm 1992, ngụ Tổ Q, Khóm W, Phường E, TP. CL qua ứng dụng Zalo để thỏa thuận mua ma túy và hẹn giao dịch tại khu vực gần nhà may “N Y” thuộc Phường E, TP. CL, N mượn xe mô tô của một người thanh niên quen ngoài xã hội (không rõ nhân thân, địa chỉ), N nói là mượn để đi công việc cá nhân nhưng trên thực tế N đi đến địa điểm đã hẹn gặp Ng, N đưa 700.000 đồng, Ng giao lại 01 bịch nylon chứa ma túy đá, mua được ma túy N giấu bịch ma túy vừa mua được vào túi quần phía trước bên phải, rồi điều khiển xe mô tô về nhà trọ “Quang NG” để trả xe mô tô. Sau khi trả xe mô tô xong, khi N đang đứng tại khu vực quầy tiếp tân nhà trọ “Quang NG” thuộc Ấp N, xã M, thành phố CL thì bị lực lượng Công an kiểm tra bắt quả tang cùng tang vật, phù hợp với kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự, biên bản xác định tình trạng nghiện và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Cáo trạng số: 14/CT-VKS-TPCL ngày 22 tháng 01 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh đã truy tố bị cáo Võ Thị Như N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố trình bày luận tội và tranh luận: Xét hành vi của bị cáo Võ Thị Như N đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố như Cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Võ Thị Như N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Võ Thị Như N với mức án từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, điều kiện kinh tế khó khăn.
Về xử lý vật chứng đề nghị Hội đồng xét xử tuyên như phần quyết định của Cáo trạng đã nêu.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình, không tham gia tranh luận và lời nói sau cùng của bị cáo là xin xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Cao Lãnh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại, tố cáo về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về căn cứ kết tội và điều luật áp dụng để định tội. Tại phiên tòa, bị cáo Võ Thị Như N thừa nhận đã thực hiện hành vi phạm tội đúng như Cáo trạng truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự, biên bản xác định tình trạng nghiện và các chứng cứ khác được thu thập trong hồ sơ vụ án.
Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận: Lúc 12 giờ 00 phút ngày 20/9/2020, tại khu vực quầy tiếp tân nhà trọ “Quang NG” thuộc Ấp N, xã M, thành phố CL, bị cáo Võ Thị Như N đang tàng trữ trái phép 0,476 gam ma túy loại Methamphetamine trong người chưa kịp sử dụng thì bị kiểm tra, phát hiện lập biên bản bắt người phạm tội quả tang cùng tang vật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma túy. Bị cáo là người đủ tuổi và có năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức rõ hành vi của bị cáo là nguy hiểm, thấy trước được tác hại, hậu quả của ma túy gây ra cho xã hội nhưng vẫn thực hiện là lỗi cố ý. Do vậy, với khối lượng ma túy mà bị cáo đã tàng trữ như trên thì bị cáo Võ Thị Như N đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Việc truy tố, xét xử bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, bị cáo có khả năng nhận thức để hiểu được tác hại của ma túy và những quy định cấm đoán của pháp luật đối với mọi hành vi phạm tội về ma túy. Nhưng để thỏa mãn nhu cầu ích kỷ của bản thân, bị cáo đã bất chấp tất cả và đi vào con đường tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng dần nhằm thỏa mãn cơn nghiện, hành vi của bị cáo không chỉ nguy hiểm cho xã hội mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương, gây tác hại về nhiều mặt đến xã hội, ảnh hưởng cho sức khỏe của con người và là cầu nối của đại dịch HIV, đồng thời là nguyên nhân dẫn đến các tội phạm nguy hiểm khác. Do đó, cần phải trừng trị bị cáo thật nghiêm khắc để giáo dục bị cáo và thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật, tạo niềm tin và sự an tâm cho Nhân dân.
Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy phải có mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để trừng trị, giáo dục bị cáo, đảm bảo tính răn đe và phòng ngừa tội phạm.
Do đó, quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, hình phạt, điều luật áp dụng là có căn cứ và phù hợp nên chấp nhận.
Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là lao động tự do, nghề nghiệp không ổn định, điều kiện kinh tế khó khăn nên đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về việc không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy những vật cấm, sử dụng vào việc phạm tội: 0,398 gam ma túy Methamphetamine còn lại sau giám định, được niêm phong trong phong bì ghi ký hiệu số 895 ngày 20/9/2020, đóng dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự-Công an tỉnh Đồng Tháp.
Về các vấn đề khác: Đối với việc Võ Thị Như N cho rằng đã mua ma túy của Lương Thanh Ng, Cơ quan điều tra đã làm việc với Ng và tiến hành cho đối chất với N nhưng Ng không thừa nhận hành vi bán ma túy cho N. Ngoài lời khai của N thì không còn chứng cứ nào khác để xác định Ng là người bán ma túy cho N nên Cơ quan điều tra tách ra, khi nào đủ căn cứ chứng minh sẽ xử lý sau là phù hợp.
Đối với người thanh niên đã cho N mượn xe mô tô vào ngày 20/9/2020. Qua kết quả điều tra xác định, bị cáo không biết họ tên và địa chỉ của người thanh niên này và khi mượn xe bị cáo cũng không nói sử dụng xe vào việc thực hiện tội phạm nên không xem xét xử lý.
Về án phí: Bị cáo Võ Thị Như N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Võ Thị Như N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Võ Thị Như N 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 0,398 gam ma túy loại Methamphetamine còn lại sau giám định, được niêm phong trong phong bì ghi ký hiệu số 895 ngày 20/9/2020, đóng dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự-Công an tỉnh Đồng Tháp.
Hiện vật chứng đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 29/01/2021.
3. Về án phí: Căn cứ vào Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Võ Thị Như N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án, đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, Ng vụ của họ trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Đồng Tháp; - VKSND TP. CL; - CQ CSĐT CA TP. CL; - CQ THAHS CA TP. CL; - Bộ phận HSNV CA TP. CL; - Bị cáo; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ vụ án, VT. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Châu Nữ Thu Hân |