vanban.org

Bản án 24/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 29/07/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên: Bị cáo Phạm Bá Ch phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

Xử phạt: Bị cáo Phạm Bá Ch 15 (Mƣời lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 15/4/2021. Về xử lý vật chứng: Tuyên tịch thu tiêu hủy 01(một) phong bì niêm phong bên trong chứa 0,421g (không phẩy bốn hai một gam) chất màu trắng; 0,071 (Không phẩy không bảy một) gam chất bột màu hồng. … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "phạm Bá ch tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên: Bị cáo Phạm Bá Ch phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUAN HÓA
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24 /2021/HS-ST
Ngày: 29 /7 /2021

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUAN HÓA, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lữ Thị Mai

Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Hoàng Văn Hùng

- Ông Nguyễn Văn Mừng

- Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Trọng Tiến – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quan Hóa

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa

tham gia phiên tòa: bà Phạm Thị Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 7 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quan Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 25/2021/TLST-HS ngày 06 tháng 7 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2021/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 7 năm 2021 đối với bị cáo:

Phạm Bá Ch - Sinh năm 1969 – STQ: Bản P, xã Tr, huyện Q, tỉnh Th

Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hoá (học vấn): không biết chữ

Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;

Con ông Phạm Bá Ch (đã chết) và bà Lương Thị P (đã chết) bị cáo có vợ là Lương Thị N sinh năm: 1970 và 02 con. Tiền án, tiền sự: không

Bị cáo bị bắt Tạm giữ, tạm giam ngày 15/4/2021 cho đến nay, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa.(bị cáo có mặt)

Người bào chữa: Ông Nguyễn Ngọc Khang – Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Thanh Hóa (Vắng mặt có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 10 giờ 30 phút ngày 15/04/2021 Công an huyện Q phối hợp cùng Công an xã Tr đang làm nhiệm vụ tại bản P, xã Tr, phát hiện Phạm Bá Ch đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy tại nhà ở bản P, xã Tr, thu giữ 01 (một) lọ nhựa có bọc bằng băng dính màu đen, bên trong chứa một gói ni lon màu xanh bên trong chứa chất màu trắng nghi là Heroine, 01 (một) gói giấy bạc bên trong chứa một viên nén màu hồng nghi là ma túy tổng hợp, 16 (mười sáu) gói giấy có dòng kẻ bên trong chứa chất màu trắng nghi Heroine. Chiều khai nhận đó là ma túy Ch mua về tàng trữ để sử dụng.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q đã tiến hành trưng cầu giám định số ma túy thu giữ của Phạm Bá Ch. Tại bản Kết luận giám định số: 1426/PC09 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Thanh Hóa ngày 22/04/2021 kết luận:

- Chất màu trắng của phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng (trọng lượng) 0,460g (không phẩy bốn sáu không gam) loại: Heroine.

- 01 (một) viên nén màu hồng của phòng bì niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng (trọng lượng) 0,109g (không phẩy một không chín gam) loại: Methamphetamine.

Tổng khối lượng ma túy thu được của Phạm Bá Ch là 0,569g (không phẩy năm sáu chín gam) loại: Heroine và Methamphetamine.

Quá trình điều tra tại Cơ quan điều tra Công an huyện Q, Phạm Bá Ch khai nhận như sau: Khoảng 06 giờ ngày 15/4/2021 Phạm Bá Ch, sinh năm 1969 thường trú tại bản P, xã Tr, huyện Q, tỉnh Th đi bộ từ nhà lên bản C, xã M, huyện M, tỉnh Th tìm mua ma túy về sử dụng. Tại khu vực bản C, Ch gặp và mua 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) của một người đàn ông dân tộc Mông (Ch không biết tên, tuổi, địa chỉ) được 16 (mười sáu) gói Heroine và một viên ma túy, tất cả được bỏ trong một lọ nhựa. Sau khi mua được ma túy, Ch cất giữ trong người đem về nhà. Đến 10 giờ 30 phút cùng ngày khi đang ở nhà, Ch lấy ma túy ra chuẩn bị sử dụng thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang thu giữ số ma túy trên.

Về vật chứng vụ án:

- 01( một) phong bì niêm phong mẫu vật Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa phát hành, được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký, ghi rõ họ tên của Lê Minh Tiến, Nguyễn Văn Hưng, Lưu Bình Nguyên và các hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Thanh Hóa, bên trong có chứa toàn bộ bao gói niêm phong 01 (một) lọ nhựa và 0,421g (không phẩy bốn hai một gam) chất màu trắng; 0,071g (không phẩy không bảy một gam) chất bột màu hồng là mẫu vật còn lại sau giám định.

Tất cả tang vật nêu trên đang được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quan Hóa theo quy định của pháp luật.

Lời khai của bị cáo Phạm Bá Ch là phù hợp với các chứng cứ thu thập được trong quá trình điều tra có trong hồ sơ vụ án.

Tại bản Cáo trạng số 22/CT-VKS-QH- HS ngày 06 tháng 7 năm 2021, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Quan Hóa truy tố bị cáo Phạm Bá Ch về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 BLHS 2015

Tại phiên tòa, Đại diện Viện Kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Phạm Bá Ch và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Bá Ch phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Áp dụng: điểm i khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS năm 2015.

Xử phạt bị cáo Phạm bá Ch từ 14 tháng đến 17 tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 15/4/2021.

Ngoài ra, Đại diện Viện Kiểm sát còn đề nghị HĐXX giải quyết những vấn đề khác trong vụ án như xử lý vật chứng, án phí.

Quan điểm của người bào chữa cho bị cáo: Người bào chữa thống nhất với quan điểm định tội, định khung hình phạt của Viện Kiểm sát. Đề nghị HĐXX xem xét thêm một số tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo như: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; bị cáo thành khần khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, nhận thức pháp luật còn hạn chế. Do đó, đề nghị HĐXX áp dụng quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo Bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản Cáo trạng đã truy tố;

Trong phần tranh luận bị cáo không có ý kiến gì. Trong lời nói sau cùng, bị cáo đã thể hiện thái độ ăn năn hối cải, mong HĐXX xem xét cho bị cáo được hưởng một mức án nhẹ để bị cáo có cơ hội cải tạo, tu dưỡng thành người công dân có ích cho xã hội

.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Xét tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan Điều tra, Viện Kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến gì. Do đó, mọi quyết định tố tụng, hành vi tố tụng trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đều hợp pháp.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản Cáo trạng đã truy tố; lời khai của bị cáo phù hợp với Biên bản phạm tội quả tang; Kết luận giám định, và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo đã có hành vi mua, tàng trữ, cất giấu chất ma túy nhằm mục đích sử dụng, thỏa mãn cơn nghiện của bản thân. Bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về số ma túy thu giữ được trong quá trình bắt quả tang có khối lượng 0,569g (không phẩy năm sáu chín gam) Heroine và methamphetamine

Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội; xâm phạm trực tiếp đến chế độ độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước; làm ảnh hưởng đến trật tự, trị an tại địa phương. Bị cáo ý thức được hậu quả của ma túy đối với sức khỏe và đời sống xã hội cũng như sự ngăn cấm của pháp luật nhưng vì để thỏa mãn cơn nghiện của bản thân; bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, hành vi của bị cáo phải bị xử lý nghiêm để đảm bảo răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, bị cáo luôn có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo chưa có tiền án tiền sự, nhân thân tốt. Từ đó, cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, khoản 1 Điều 51 BLHS để bị cáo thấy rõ sự khoan hồng của pháp luật.

Về hình phạt chính : Từ những căn cứ nêu trên, cần áp dụng quy định tại điểm i khoản 1, Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 BLHS 2015; xử phạt bị cáo một mức án tương xứng với tính chất và mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Do đó, cần xử phạt bị cáo một mức án thật nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian dài mới đủ sức răn đe, để bị cáo tích cực cải tạo, rèn luyện trở thành công dân có ích cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người nghiện ma túy, không có công việc, thu nhập ổn định. Hội đồng xét xử xét thấy không áp dụng phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về các tình tiết khác trong vụ án:

Bị cáo Ch khai có mua ma túy với một người đàn ông dân tộc Mông không rõ tên tuổi ở bản C, xã M, huyện M Cơ quan điều tra Công an huyện Quan Hóa không thể điều tra mở rộng vụ án.

Về xử lý vật chứng:

Toàn bộ bao gói niêm phong và 0,421g (không phẩy bốn hai một gam) chất màu trắng; 0,071 (Không phẩy không bảy một) gam chất bột màu hồng. Là mẫu vật còn lại sau giám định. Tất cả được đựng trong 01 phong bì niêm phong mẫu vật do Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Thanh Hóa phát hành, được dán kín, niêm phong là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ. Do đó, cần áp dụng quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 47 BLHS 2015; điểm a, khoản 2 Điều 106 BLTTHS tuyên tịch thu, tiêu hủy.

Về án phí: bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luât.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS 2015;

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS 2015; điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS 2015;

Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, Điều 331, 333 BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu nộp quản lý và sử dụng lệ phí, án phí Tòa án.

1. Tuyên: Bị cáo Phạm Bá Ch phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

2. Xử phạt: Bị cáo Phạm Bá Ch 15 (Mƣời lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 15/4/2021.

3. Về xử lý vật chứng: Tuyên tịch thu tiêu hủy 01(một) phong bì niêm phong bên trong chứa 0,421g (không phẩy bốn hai một gam) chất màu trắng; 0,071 (Không phẩy không bảy một) gam chất bột màu hồng. Là mẫu vật còn lại sau giám định. Đặc điểm vật chứng thể hiện tại Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản lập ngày 06 tháng 7 năm 2021 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Quan Hóa và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quan Hóa .

4. Về án phí: Bị cáo Phạm Bá Ch phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm công khai, có mặt bị cáo. Bị cáo có quyền kháng cáo toàn bộ nội dung bản án trong thời hạn 15 (mười lăm ngày) kể từ ngày tuyên án ./.

Cỡ chữ