vanban.org

Bản án 24/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên Tuyên án 15/12/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vàng A S phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Vàng A S 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26/9/2021. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Thào A S - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vàng A S phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? luật Viện kiểm sát nhân dân huyện N truy tố; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 15 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN N
TỈNH ĐIỆN BIÊN
______________

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2021/HS-ST
Ngày: 15-12-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NẬM PỒ, TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Sao

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Khoàng Văn Sơn

Bà Lầu Thị Liên

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Thùy Dung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Ông Lê Thành Công - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 12 năm 2021, tại Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 17/2021/TLST-HS ngày 11/11/2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2021/QĐXXST-HS ngày 03/12/2021 đối với bị cáo:

Họ và tên: Vàng A S; sinh ngày 01/01/1956 tại huyện Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai; Nơi cư trú: Bản Nộc Cốc 1, xã V, huyện N, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Nông nghiệp; Trình độ học vấn: Không; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Tin lành; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vàng A T (đã chết) và bà Giàng Thị M; Bị cáo có vợ là Tráng Thị M1 và 04 người con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 26/9/2021, sau đó tạm giam từ ngày 29/9/2021 cho tới nay, có mặt.

Người phiên dịch cho bị cáo: Ông Hồ A D, sinh năm 1984; địa chỉ: Bản Huổi Hâu, xã Nà Khoa, huyện N, tỉnh Điện Biên, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 12 giờ 45 phút, ngày 26/9/2021, tổ công tác Công an huyện N phối hợp với Đồn Biên phòng B đang làm nhiệm vụ tại khu vực bản H, xã V, huyện N, tỉnh Điện Biên, phát hiện Vàng A S đang đi bộ có biểu hiện vi phạm pháp luật nên đã yêu cầu dừng lại để kiểm tra. Sau khi nghe tổ công tác giải thích, Vàng A S đã tự giác giao nộp 02 gói nilon màu trắng, bên trong chứa chất bột dạng nén màu trắng đục nghi là Heroine, được Sử cất giấu trong túi áo ngực bên trái đang mặc. Tổ công tác đã mời người chứng kiến, tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ gói vật chứng nêu trên.

Tại cơ quan điều tra Vàng A S khai nhận: 02 gói nilon màu trắng, bên trong có chứa chất bột màu trắng đục, bị tổ công tác thu giữ là Heroine của Vàng A S. Nguồn gốc số Heroine này là do Vàng A S mua của 01 người phụ nữ không quen biết vào khoảng 09 giờ 00 phút ngày 26/9/2021 với giá 100.000 đồng tại khu vực bản H, xã V, huyện N, tỉnh Điện Biên. Vàng A S mua Heroine với mục đích tàng trữ sử dụng cho bản thân vì Sử là người nghiện ma túy. Sau khi mua được Heroine, Vàng A S cất giấu trong túi áo ngực đang mặc trên người, khi đang đi bộ tới khu vực bản H, xã V, huyện N thì bị tổ công tác phát hiện, thu giữ 02 Heroine.

Tại Biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại vật chứng ngày 27/9/2021 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N xác định: 02 gói nilon chứa chất bột dạng nén màu trắng đục thu giữ của Vàng A S có tổng khối lượng là 0,2 (không phẩy hai) gam, lấy toàn bộ mẫu gửi giám định.

Tại Bản kết luận giám định số: 1123/GĐ-PC09, ngày 04/10/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận:

“- 02 (hai) mẫu chất bột màu trắng đục thu giữ của Vàng A S gửi giám định là chất ma túy: Loại Heroine”.

Tại Cáo trạng số: 56/CT-VKSNP ngày 19/11/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Điện Biên đã truy tố bị cáo Vàng A S về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, bị cáo Vàng A S đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình phù hợp với bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện N đã truy tố bị cáo.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N giữ quyền công tố và kiểm sát xét xử luận tội: Giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Vàng A S về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; đề nghị xử phạt bị cáo Vàng A S từ 14 tháng đến 17 tháng tù; đối với vật chứng của vụ án là Heroine đã gửi mẫu giám định toàn bộ, không hoàn lại mẫu nên không đề nghị xử lý. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền và miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật đối với bị cáo.

Bị cáo Vàng A S nhất trí với luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không tranh luận gì. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tội danh và điều luật Viện kiểm sát nhân dân huyện N truy tố đối với bị cáo:

Tại phiên tòa, bị cáo Vàng A S thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như sau: Vào hồi 12 giờ 45 phút, ngày 26/9/2021, Vàng A S đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,2 (không phẩy hai) gam Heroine, gói bằng nilon màu trắng, được bị cáo cất giấu trong túi áo ngực bên trái mặc trên người, khi đang đi bộ ở khu vực bản H, xã V, huyện N, tỉnh Điện Biên. Nguồn gốc số Heroine này là do bị cáo mua của 01 người phụ nữ không quen biết tại khu vực bản H, xã V, huyện N, tỉnh Điện Biên vào sáng ngày 26/9/2021 với giá 100.000 đồng. Mục đích bị cáo tàng trữ trái phép Heroine là để sử dụng cho bản thân vì bị cáo là người nghiện ma túy. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ.

Do đó, đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Vàng A S phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện N đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự quy định: “1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:…

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam…”.

Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội lớn, xâm phạm đến sự độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước. Hành vi của bị cáo gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự xã hội trên địa bàn xã V, huyện N vì ma túy không chỉ gây hủy hoại sức khỏe của con người mà còn là nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội khác. Bản thân bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, không bị ai xúi giục. Do đó, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời hạn nhất định, để bị cáo cải tạo bản thân và làm gương răn đe, giáo dục trong Nhân dân.

Về nhân thân bị cáo: Vàng A S xuất thân trong gia đình nông dân nhưng không chịu lao động, sống buông thả nên đã nghiện ma túy. Ngoài lần phạm tội này, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự.

Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Khi bị bắt giữ bị cáo luôn thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội. Tại phiên tòa, bị cáo cũng đã thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.

Xét đề nghị xử phạt của Viện kiểm sát: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị xử phạt bị cáo Vàng A S mức án từ 14 đến 17 tháng tù. Xét thấy, bị cáo Vàng A S có nhân thân tốt, bị cáo tàng trữ khối lượng Heroine nhỏ là 0,2 gam và có 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, do đó Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo ở mức thấp nhất của khung hình phạt là phù hợp nên không chấp nhận mức đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự thì “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”, do đó bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo là người nghiện ma túy, nghề nghiệp chính là làm nông nghiệp, bị cáo không có tài sản có giá trị (Biên bản xác minh ngày 29/9/2021 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N), gia đình bị cáo thuộc diện hộ nghèo (Giấy Chứng nhận hộ nghèo, hộ cận nghèo số 193/GCN-HN.HCN, ngày 20/10/2021 của Ủy ban nhân dân xã V) nên bị cáo không có khả năng thi hành hình phạt bổ sung là phạt tiền. Vì vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng của vụ án: Vật chứng của vụ án là 0,2 gam Heroine, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã gửi giám định toàn bộ khối lượng, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên sau khi giám định không hoàn lại mẫu. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét vật chứng.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Trong vụ án Vàng A S khai nhận đã mua heroine của 01 người phụ nữ, không quen biết vào sáng ngày 26/9/2021 tại khu vực bản H, xã V, huyện N, tỉnh Điện Biên. Do bị cáo không biết tên, địa chỉ cụ thể của người phụ nữ này ở đâu nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N không có căn cứ để điều tra, làm rõ xử lý theo quy định, Hội đồng xét xử không có cơ sở xem xét.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo. Căn cứ vào Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo là dân tộc thiểu số (dân tộc Mông) sống tại xã V, huyện N, tỉnh Điện Biên là xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và gia đình bị cáo là hộ nghèo. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự,

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vàng A S phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

2. Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Vàng A S 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26/9/2021.

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Vàng A S.

4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo Vàng A S được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án 15/12/2021./.

Cỡ chữ