vanban.org

Bản án 24/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình Tuyên án 11/06/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về t i danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm t i “Tàng trữ trái ph p chất ma túy .

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 20 (Hai mươi) tháng tù, thời hạn t tính t ngày tạm giữ, tạm giam 01/02/2021. Về vật chứng vụ án: Căn cứ vào Điều 47 của B luật hình sự và Điều 106 của B luật tố tụng hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Luyện - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về t i danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm t i “Tàng trữ trái ph p chất ma túy .
  • Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng hình sự; Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN K
TỈNH HÒA BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2021/HS-ST
Ngày 11/6/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K, TỈNH HÒA BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Đà Giang

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Văn Thức

Ông Bùi Thanh Nông

- Thư ký phiên tòa: Bà B i Thị

ng – Th ký Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh òa Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K, tỉnh Hòa Bình tham gia phiên tòa: Bà B i Thanh L ng - Kiểm sát viên.

Ngày 11/6/2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh òa Bình xét xử s thẩm công khai vụ án hình sự s thẩm thụ lý số: 17/2021/TLST-HS ngày 14/4/2021 theo Quyết định đ a vụ án ra xét xử số: 21/2021/QĐXXST-HS ngày 28/5/2021 đối với bị cáo:

NGUY N V N L (Tên gọi khác: Không), sinh năm 1983 tại huyện M Đức, Th phố à N i. N i c trú: Thôn K, x V, huyện K, tỉnh Hòa Bình; nghề nghiệp: lao đ ng tự do; trình đ văn hoá (học vấn): 12/12; dân t c: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Ngọc L và bà Mai Thị B; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; Ch a có vợ, con;

Tiền án: có 01 tiền án: Ngày 21/3/2018 bị Tòa án nhân dân huyện Tân L, tỉnh òa Bình xử phạt 12 tháng t về t i tr m c p tài sản theo bản án số 02/2018/HSST;

Tiền sự: có 01 tiền sự:

- Ngày 08/12/2016, bị Công an huyện K, tỉnh òa Bình xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái ph p chất ma túy (theo quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 130, ngày 14/12/2016), ch a n p tiền phạt.

Nhân thân:

- Ngày 10/5/2007 bị áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính đ a vào c sở cai nghiện b t bu c theo Quyết định số 3200/2006/QĐ- UBND của Chủ tịch UBND huyện K, tỉnh òa Bình trong thời hạn 12 tháng, đ chấp hành xong.

- Ngày 26/4/2011 bị cáo bị Tòa án nhân dân thành phố , tỉnh òa Bình xử phạt 30 tháng t giam về t i tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái ph p hoặc chiếm đoạt chất ma túy theo bản án số 22/2011/ SST, đ chấp hành xong và n p án phí đầy đủ.

Bị cáo bị b t tạm giữ, tạm giam t ngày 01/02/2021 đến nay, đ ợc trích xuất có mặt tại phiên tòa.

- Người tham gia tố tụng khác:

Người có quy n l i, nghĩa vụ liên quan:

+ Anh Nguyễn Văn Th, sinh năm 1988 (có mặt)

N i c trú: Thôn K, x V, huyện K, tỉnh òa Bình.

Người chứng ki n:

+ B i Văn L, sinh năm 1984; (v ng mặt không có lý do)

N i c trú: xóm Đ, x V, huyện K, tỉnh òa Bình.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ s vụ án và diễn biến tại phiên tòa, n i dung vụ án đ ợc tóm t t nh sau:

Khoảng 09 giờ ngày 01/02/2021, Nguyễn Văn L, sinh năm 1983, trú tại: Thôn K, x V, huyện K, tỉnh òa Bình điều khiển chiếc xe mô tô nh n hiệu onda Air blade biển kiểm soát 30 2- 1965 đi t nhà tại thôn K - V- K- òa Bình đi đến thành phố , tỉnh òa Bình để mua ma túy. Khi đi đến chân Dốc Cun thu c địa phận ph ờng Th, thành phố , tỉnh òa Bình thì Luyện gặp m t ng ời đàn ông lạ mặt và hỏi mua 400.000đ (Bốn trăm nghìn đồng) ma túy. Ng ời đàn ông lạ mặt đ a cho Luyện 01 (Một) túi nhỏ nilon màu tr ng, bên trong có 02 (Hai) gói nhỏ h n đều đ ợc gói bằng mảnh giấy tr ng, bên trong 01 (Một) gói nhỏ chứa chất b t dạng cục màu tr ng, 01 (Một) gói nhỏ còn lại chứa 01 (Một) mảnh viên n n màu hồng, đều là chất ma túy. Sau khi kiểm tra xong, Luyện cất số ma túy mua đ ợc vào túi áo khoác bên phải đang mặc rồi điều khiển xe đi về nhà. Khoảng 12 giờ 25 phút, khi đi đến đoạn đ ờng Tr ờng S n thu c địa phận thôn 168, x Vĩnh Tiến, huyện K, tỉnh òa Bình thì bị tổ công tác của Công an huyện K và Công an xã Vĩnh Tiến kiểm tra phát hiện b t quả tang và thu giữ toàn b số ma túy trên.

Tại kết luận giám định số 42/KLGĐ- CAT- PC09, ngày 04/02/2021 của Phòng k thuật hình sự Công an tỉnh òa Bình đ kết luận: “Chất b t dạng cục màu tr ng trong phong bì niêm phong ghi “Tang vật nghi là chất ma túy thu giữ khi b t quả tang Nguyễn Văn L; SN: 1983 trú tại: Thôn K – V – K – òa Bình gửi giám định có khối l ợng là 0,36g (Không phẩy ba mươi sáu gam) là ma túy, loại eroine. Heroine nằm trong danh mục I, số thứ tự 09, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ. Mảnh viên n n màu hồng trong phong bì niêm phong ghi “Tang vật nghi là chất ma túy thu giữ khi b t quả tang Nguyễn Văn L; 1983 trú tại Thôn K – V – K – òa Bình gửi giám định có khối l ợng là 0,06g (Không phẩy không sáu gam) là ma túy loại Methaphetamine. Methaphetamine nằm trong danh mục II, số thứ tự 323, Nghị định số 73/2018/NĐ- CP ngày 15/5/018 của Chính phủ.

Bản cáo trạng số 18/CT-VKS ngày 13/4/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện K, tỉnh òa Bình truy tố bị cáo Nguyễn Văn L về t i tàng trữ trái ph p chất ma túy theo điểm i khoản 1 Điều 249 B luật hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn L khai nhận toàn b hành vi phạm t i của mình nh bản cáo trạng đ truy tố. Bị cáo không có ý kiến gì về n i dung bản cáo trạng, không kêu oan.

Ý ki n của những người tham gia phiên tòa đư c Tòa án triệu tập:

Người có quy n, nghĩa vụ liên quan:

Anh Nguyễn Văn Th (em ru t của bị cáo L) khai nhận chiếc xe Honda Air blade, màu s n xanh đen, biển kiểm soát 30H2 – 1965, số khung: HJF18098Y683486; số máy: 18E-5287827, xe không có g ng chiếu hậu cả hai bên là xe của B i Văn Th cho L m ợn. L đ điều khiển xe đi mua ma túy anh Th không biết, đ bị c quan điều tra thu giữ. Quá trình điều tra, c quan điều tra đ xác minh thu c quyền sở hữu của B i Văn Th. Anh Th có ý kiến đề nghị trả lại xe Honda Air blade biển kiểm soát 30H2 – 1965 đ miêu tả nêu trên.

Theo kết luận điều tra và căn cứ lời khai của bị cáo Nguyễn Văn L tại phiên tòa 01 (một) chiếc điện thoại di đ ng nh n hiệu Masster, màu đen xanh, máy chứa sim số 0971.754.287, máy c đ qua sử dụng, là điện thoại của Nguyễn Văn L, quá trình điều tra xác minh chiếc điện thoại không đ ợc sử dụng vào hành vi phạm t i. iện đang đ ợc bảo quản tại Kho vật chứng công an huyện K. Bị cáo đề nghị đ ợc trả lại cho bị cáo.

* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K, tỉnh òa Bình thực hành quyền công tố và kiểm sát x t xử giữ nguyên quyết định truy tố, t i danh đối với bị cáo. Đề nghị i đồng x t xử:

- Căn cứ Điểm i Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1, khoản 2 Điều 51 B luật ình sự; Điểm h Khoản 1 Điều 52; Điều 38 của B luật hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm t i tàng trữ trái ph p chất ma túy; Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L t 18 đến 24 tháng tù.

- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Về vật chứng vụ án: Đề nghị:

+ Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) phong bì niêm phong dán kín của Phòng k thuật hình sự Công an tỉnh òa Bình, m t mặt ghi “M U G M Đ N MA T , ghi số thông báo kết luận số: 42 ngày 04/02/2021; tên đối t ợng Nguyễn Văn L; m p dán có dấu niêm phong của Phòng k thuật hình sự Công an tỉnh òa Bình và chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong;

+ Trả lại cho bị cáo: 01 (một) chiếc điện thoại di đ ng nh n hiệu Masster, màu đen xanh, máy chứa sim số 0971.754.287, máy c đ qua sử dụng, bên trong chứa sim số 0971.754.287;

+ Trả lại cho anh Nguyễn Văn Th 01 (một) xe mô tô Honda Air blade, màu s n xanh đen, biển kiểm soát 30H2 – 1965, số khung: HJF18098Y683486; số máy: 18E-5287827, xe không có g ng chiếu hậu cả hai bên hiện đang l u giữ tại kho vật chứng.

Các ý ki n tranh luận: Bị cáo nhận t i và thấy mức hình phạt đề nghị là đúng nên không có ý kiến tranh luận, những ng ời tham gia tố tụng không có ý kiến tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo biết hành vi của mình là sai, mong i đồng x t xử xem x t cho bị cáo đ ợc h ởng mức hình phạt thấp nhất. Bị cáo s không tái phạm nữa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên c sở n i dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ s vụ án đ đ ợc tranh tụng tại phiên tòa, i đồng x t xử nhận định nh sau:

V tố tụng: ành vi tố tụng, quyết định tố tụng của C quan cảnh sát điều tra Công an huyện K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện K, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đ đ ợc thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của B luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố những ng ời tham gia tố tụng không có khiếu nại, tố cáo hành vi, quyết định tố tụng của C quan tiến hành tố tụng và ng ời có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

V căn cứ xác định tội danh, đi u luật áp dụng đối với bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi tàng trữ trái ph p chất ma túy của mình. Lời khai của bị cáo ph hợp với lời khai tại C quan điều tra, lời khai của ng ời làm chứng và những chứng cứ khác có trong hồ s vụ án. i đồng x t xử có đủ c sở kết luận: Khoảng 09 giờ ngày 01/02/2021, Nguyễn Văn L đ điều khiển chiếc xe mô tô nh n hiệu onda Air blade biển kiểm soát 30H2- 1965 đi t nhà tại thôn Kim Đức- Vĩnh Tiến- K- òa Bình đi đến chân Dốc Cun thu c địa phận ph ờng Th, thành phố , tỉnh òa Bình để mua ma túy. Nguyễn Văn L đ có hành vi mua và tàng trữ trái ph p 0,36g (Không phẩy ba mươi sáu gam) là ma túy, loại eroine và 0,06g (Không phẩy không sáu gam) là ma túy loại Methaphetamine nhằm mục đích để sử dụng cá nhân thì bị b t quả tang. ành vi của bị cáo đ cấu thành t i tàng trữ trái ph p chất ma túy. Bản cáo trạng truy tố bị cáo theo điểm i khoản 1 Điều 249 của B luật hình sự là có căn cứ, đúng ng ời, đúng t i.

V tính chất, mức độ hành vi phạm tội, năng lực chịu trách nhiệm hình sự của bị cáo: ành vi của bị cáo là nguy hiểm cho x h i, xâm phạm chính sách đ c quyền quản lý Nhà n ớc về ma túy và các chất gây nghiện, xâm phạm trật tự an toàn x h i ở địa ph ng. Bị cáo là ng ời có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức đ ợc tác hại của ma túy, biết việc tàng trữ trái phép chất ma túy bị pháp luật nghiêm cấm nh ng là ng ời nghiện chất ma túy, có tiền sự và nhân thân về việc sử dụng trái ph p chất ma túy nên để có ma túy sử dụng cho bản thân, bị cáo đ phạm t i. Bị cáo đ mua ma túy mang theo trong ng ời, sau đó giấu ma túy vào túi áo khoác bên phải đang mặc nhằm tránh sự phát hiện của c quan chức năng. Do vậy, cần có mức án t ng xứng với hành vi phạm t i của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống x h i m t thời gian mới đủ để cải tạo, giáo dục và phòng ng a t i phạm chung. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị xử phạt bị cáo t 18 đến 24 tháng tù là có xem x t, đánh giá hết tính chất mức đ hành vi phạm t i của bị cáo đ gây ra.

V nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu đ t ng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái ph p chất ma túy, t ng bị áp dụng biện pháp hành chính đ a đi cai nghiện b t bu c; 01 tiền án về t i tr m c p tài sản; 01 tiền sự bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái ph p chất ma túy (theo quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 130, ngày 14/12/2016), ch a n p tiền phạt.

V các tình ti t tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 B luật hình sự: Ngày 21/3/2018 bị Tòa án nhân dân huyện Tân L, tỉnh òa Bình xử phạt 12 tháng t về t i tr m c p tài sản theo bản án số 02/2018/ SST, ch a đ ợc xóa án tích lại tiếp tục phạm t i.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo; ăn năn hối cải về hành vi phạm t i của mình. Bị cáo có ông n i đ ợc tặng huân ch ng kháng chiến. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 B luật ình sự, i đồng x t xử áp dụng giảm nhẹ cho bị cáo khi quyết định hình phạt.

V hình phạt bổ sung: Bản thân bị cáo là ng ời nghiện ma túy, là lao đ ng tự do thu nhập không ổn định. Do vậy, i đồng x t xử không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền và các hình phạt bổ sung khác đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của B luật hình sự.

V vật chứng của vụ án:

- 01 (Một) phong bì niêm phong dán kín của Phòng k thuật hình sự Công an tỉnh òa Bình, m t mặt ghi “M U G M Đ N MA T , ghi số thông báo kết luận số: 42 ngày 04/02/2021; tên đối t ợng Nguyễn Văn L; m p dán có dấu niêm phong của Phòng k thuật hình sự Công an tỉnh òa Bình và chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong bên trong chứa ma túy còn lại sau giám định; là chất cấm l u thông do bị cáo tàng trữ trái ph p nên cần tịch thu tiêu hủy theo Điều 47 của B luật hình sự và Điều 106 của B luật tố tụng hình sự.

- 01 (một) chiếc điện thoại di đ ng nh n hiệu Masster, màu đen xanh, máy chứa sim số 0971.754.287, máy c đ qua sử dụng, bên trong chứa sim số 0971.754.287, là tài sản thu c quyền sở hữu của bị cáo, không liên quan đến vụ án, cần trả lại cho bị cáo.

- 01 (một) xe mô tô Honda Air blade, màu s n xanh đen, biển kiểm soát 30H2 – 1965, số khung: HJF18098Y683486; số máy: 18E-5287827, xe không có g ng chiếu hậu cả hai bên hiện đang l u giữ tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự huyện K theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 14/4/2021 là tài sản của bị cáo L m ợn em trai là Nguyễn Văn Th, cần trả lại cho anh Nguyễn Văn Th.

V vấn đ khác:

Đối với đối t ợng đ cung cấp ma túy cho bị cáo Nguyễn Văn L ngày 01/02/2021 quá trình điều tra, C quan cảnh sát điều tra Công an huyện K ch a xác định đ ợc đối t ợng nh đặc điểm mô tả nên không có căn cứ để xử lý trong vụ án này.

V án phí: Bị cáo là ng ời bị kết án nên phải chịu án phí hình sự s thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các l trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của B luật hình sự;

1. Về t i danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm t i “Tàng trữ trái ph p chất ma túy .

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 20 (Hai mươi) tháng tù, thời hạn t tính t ngày tạm giữ, tạm giam 01/02/2021.

3. Về vật chứng vụ án: Căn cứ vào Điều 47 của B luật hình sự và Điều 106 của B luật tố tụng hình sự:

+ Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong dán kín của Phòng k thuật hình sự Công an tỉnh òa Bình, m t mặt ghi “M U G M Đ N MA T , ghi số thông báo kết luận số: 42 ngày 04/02/2021; tên đối t ợng Nguyễn Văn L; m p dán có dấu niêm phong của Phòng k thuật hình sự Công an tỉnh òa Bình và chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong bên trong chứa ma túy còn lại sau giám định;

+ Trả lại cho bị cáo: 01 (một) chiếc điện thoại di đ ng nh n hiệu Masster, màu đen xanh, máy chứa sim số 0971.754.287, máy c đ qua sử dụng, bên trong chứa sim số 0971.754.287 hiện đang l u giữ tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự huyện K;

+ Trả lại cho anh Nguyễn Văn Th (sinh năm 1988, trú tại: Thôn K, x V, huyện K, tỉnh òa Bình) 01 (một) xe mô tô Honda Air blade, màu s n xanh đen, biển kiểm soát 30H2 – 1965, số khung: HJF18098Y683486; số máy: 18E-5287827, xe không có g ng chiếu hậu cả hai bên hiện đang l u giữ tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự huyện K theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 14/4/2021.

4. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQ 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Th ờng vụ Quốc h i quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, n p, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Bị cáo Nguyễn Văn L phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự s thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của B luật Tố tụng hình sự bị cáo, ng ời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể t ngày tuyên án s thẩm.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ