vanban.org

Bản án 24/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên Tuyên án 30/11/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Quàng Văn L phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Xử phạt bị cáo Quàng Văn L 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 20/9/2021. Về vật chứng vụ án: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "QUÀNG VĂN L - TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT M A TÚY - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Quàng Văn L phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐIỆN BIÊN ĐÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐIỆN BIÊN
Bản án số: 24/2021/HS-ST
Ngày: 30- 11 - 2021
ơ

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN ĐÔNG, TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Hồng Quang.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Bùi Như Lữ.

2. Bà Nguyễn Thị Hường.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lò Thị Hòa - Thư ký Toà án nhân dân huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Bà Cao Thị Ái - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở Tòa án huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 25/2021/TLST-HS ngày 16 tháng 11 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2021/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 11 năm 2021 đối với bị cáo:

Họ và tên: Quàng Văn L (tên gọi khác: không); Sinh năm: 1992 tại huyện M, tỉnh Đ; Nơi cư trú: Bản H, xã P, huyện Đ, tỉnh Đ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Nông nghiệp; Trình độ văn hóa: 11/12; Con ông Quàng Văn C, sinh năm 1956 và bà Lò Thị H, sinh năm 1960; có vợ là Lò Thị L, sinh năm 2002và có 01 con, sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân: Theo bản án số 64/2016/HSST ngày 21/3/2016 bị Tòa án nhân dân huyện Sông Mã, Tỉnh Sơn La xử phạt 26 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy đến ngày 04/11/2017 chấp hành xong án phạt và trở về địa phương. Đến nay đã được xóa án tích.

Bị bắt, tạm giữ từ ngày 20/9/2021 đến 29/9/2021; tạm giam từ ngày 30/9/2021 đến nay. Có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Quàng Văn C,sinh năm 1956. Địa chỉ: Bản H, xã P, huyện Đ, tỉnh Đ. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 18 giờ 00 phút ngày 20/9/2021, Quàng Văn L đang ở nhà thì có một người đàn ông dân tộc Kinh gọi điện cho L nhờ L đi mua ma túy và thỏa thuận nếu mua được sẽ cho L sử dụng cùng. L đồng ý và điều khiển xe máy biển kiểm soát 27B1. 552.66 lên Mỏ Chì gặp người đàn ông dân tộc Kinh lấy 200.000đ và quay về. Khi đến bản H, xã P L gặp Quàng Văn T qua trao đổi L, T thống nhất lên bản Lọng L, xã M, thành phố P để tìm mua ma túy sử dụng. Khi đến bản L, xã M L và T đã gặp một người đàn ông dân tộc Mông khoảng 50 tuổi, L mua được 01 gói heroine với giá 200.000đ và T mua được 02 viên Methamphetamine với giá 100.000đ. Sau khi mua được ma túy, L cầm toàn bộ số ma túy cất vào cốp xe rồi điều khiển xe chở T quay về nhà. Đến 22 giờ 00 phút cùng ngày, khi về đến khu vực bản H, xã P thì gặp tổ công tác công an xã P, T bỏ chạy còn L bị tổ công tác giữ được qua kiểm tra phát hiện, bắt quả tang thu giữ toàn bộ số ma túy.

Vật chứng thu giữ gồm: 01 gói nilon màu hồng bên trong có cục chất bột màu trắng dạng nén nghi Heroine và 01 gói nilon màu hồng bên trong có 02 viên Methamphetamine; 01 chiếc điện thoại di động màn hình cảm ứng, kiểu máy: Redmi Note 7; IMEI 1: 864605048168539; IMEI 2: 86460508528534 màn hình chiếc điện thoại bị vỡ, máy cũ đã qua sử dụng; 01 chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA, WAVE RSX, màu đỏ đen, biển kiểm soát 27B1-552.66; số máy: JA38E-0054917; số khung: RLHJA3811GY023217, xe cũ đã qua sử dụng.

Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng đối với vật chứng thu giữ của Quàng Văn L: Số chất bột màu trắng dạng nén có khối lượng là 0,79 gam, trích gửi giám định là 0,09 gam, vật chứng còn lại là 0,7 gam; Số viên nén màu hồng có khối lượng là 0,17 gam, trích mẫu gửi giám định là 0,08 gam, vật chứng còn lại là 0,09 gam.

Tại bản kết luận định số 1105/GĐ-PC09 ngày 28/9/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên đã kết luận: Mẫu chất bột màu trắng thu giữ của Quàng Văn L gửi giám định là chất ma túy: Loại Heroine; Mẫu viên nén màu hồng thu giữ của Quàng Văn L gửi giám định là chất ma túy: Loại Methamphetamine. Heroine, Methaphetamine nằm trong danh mục các chất ma túy quy định tại Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ;

Tại Cáo trạng số 85/CT-VKS-ĐBĐ ngày 15/11/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên Đông truy tố bị cáo Quàng Văn L về tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy " theo Điểm i Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội: Vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Quàng Văn L cả về tội danh và điều luật áp dụng. Đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử, áp dụng Điểm i Khoản 1 Điều 249, Điểm s Khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Quàng Văn L từ 18 đến 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Về vật chứng vụ án; áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 0,09 gam Methamphetamine và 0,7 gam Heroine còn lại sau giám định theo quy định pháp luật; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; bị cáo không phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Quàng Văn C, sinh năm 1956, trú tại: Bản Huổi Tao A, xã Pu Nhi, huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên khai nhận: Chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA, WAVE RSX, màu đỏ đen, biển kiểm soát 27B1-552.66; số máy: JA38E-0054917; số khung: RLHJA3811GY023217, xe cũ đã qua sử dụng mà cơ quan CSĐT Công an huyện Điện Biên Đông thu giữ của Quàng Văn L là tài sản hợp pháp của ông Quàng Văn C, chiếc xe mua từ năm 2017 với giá 28.000.000đ, số tiền dùng mua xe là tiền của ông C, ông mua xe để làm phương tiện đi lại trong gia đình, việc Quàng Văn L sử dụng phạm tội ông C không biết, nên ông đề nghị Tòa án xem xét trả lại cho gia đình ông sử dụng.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không tranh luận gì thêm với đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo sớm về với gia đình, hoàn cảnh gia đình bị cáo rất khó khăn mong HĐXX xem xét miễn án phí cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Xét hành vi của bị cáo Quàng Văn L thấy rằng: Tại phiên tòa hôm nay, một lần nữa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình bị cáo khai nhận: Khoảng 18 giờ ngày 20/9/2021, bị cáo và Quàng Văn T đã gặp một người đàn ông dân tộc Mông, khoảng 50 tuổi, qua trao đổi bị cáo đã mua được 01 gói Heroine với giá 200.000đ và T mua được 02 viên Methamphetamine với giá 100.000đ . Đến 22 giờ 00 phút cùng ngày, khi về đến khu vực bản H, xã P thì gặp tổ công tác công an xã P, T bỏ chạy còn bị cáo L bị tổ công tác bắt quả tang, thu giữ 0,79 gam Heroine và 0,17 gam Methamphetamine.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội thuộc trường hợp nghiêm trọng; xâm phạm chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của nhà nước; gây mất trật tự trị an xã hội; bản thân bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự; nhận thức rõ tác hại của chất ma túy và sự nghiêm cấm của pháp luật nhưng vẫn cố tình vi phạm cho nên phải chịu trách nhiệm đối với hành vi mình đã thực hiện. Theo lời khai và chứng cứ cơ quan điều tra thu thập được đã được xem xét công khai tại phiên tòa, đủ căn cứ xác định bị cáo Quàng Văn L phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo Điểm i Khoản 1 Điều 249 BLHS như Cáo trạng đã truy tố.

Điều luật quy định: " 1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

......

i) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này"

Như vậy, Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên Đông truy tố bị cáo về tội danh và điều luật là có căn cứ cần chấp nhận.

. Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy rằng:

Về tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa cũng như trong quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần áp dụng cho bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân của bị cáo thấy rằng, bản thân bị cáo sinh ra và lớn lên tại vùng sâu, vùng xa, ở nhà lao động, sản xuất cùng gia đình, không làm tròn trách nhiệm của người cha không làm gương cho con cái noi theo mà nghiện ma túy trở thành gánh nặng cho gia đình và xã hội, do bị rủ rê, lôi kéo, không thoát khỏi cám dỗ dẫn đến nghiện ma túy nên tàng trữ sử dụng trái phép chất ma túy như ngày hôm nay. Cho nên cần xử lý nghiêm bị cáo để làm bài học giáo dục răn đe, cảnh tỉnh chung.

. Về hình phạt:

- Hình phạt chính: Từ phân tích về hành vi phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử chấp nhận mức đề xuất của đại diện Viện kiểm sát về hình phạt chính là hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo để cải tạo, giáo dục để bị cáo trở thành công dân sống có ích cho gia đình và xã hội.

- Hình phạt bổ sung: Theo quy định tại Khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”, do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo làm ruộng, hoàn cảnh gia đình bị cáo rất khó khăn. Do vậy, khó có điều kiện để thi hành án. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về vật chứng vụ án:

+ Đối với 0,79 gam Heroine, trích gửi giám định 0,09 gam, còn lại 0,7 gam và 0,17 gam Methamphetamine, trích mẫu gửi giám định là 0,08 gam, vật chứng còn lại là 0,09 gam là chất thuộc Nhà nước cấm Mua bán, lưu hành, cần tịch thu và tiêu hủy toàn bộ theo quy định của pháp luật.

+ Đối với chiếc điện thoại di động màn hình cảm ứng, kiểu máy: Redmi Note 7; IMEI 1: 864605048168539; IMEI 2: 86460508528534 màn hình chiếc điện thoại bị vỡ máy cũ đã qua sử dụng là phương tiện bị cáo dùng vào việc trao đổi để mua ma túy tuy nhiên ngoài lời khai của bị cáo không có chứng cứ nào chứng minh bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

+ Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA, WAVE RSX, màu đỏ đen, biển kiểm soát 27B1-552.66; số máy: JA38E-0054917; số khung: RLHJA3811GY023217, xe cũ đã qua sử dụng. Qúa trình điều tra cơ quan CSĐT đã xác minh chiếc xe máy là tài sản sở hữu hợp pháp của ông Quàng Văn C, sinh năm 1956, trú tại bản H, xã P, huyện Đ, tỉnh Đ, việc Quàng Văn L sử dụng vào việc phạm tội ông C không biết, ông có đơn xin lại tài sản nên trả lại cho ông Quàng Văn C theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

. Về các vấn đề khác trong vụ án:

Đối với người đàn ông dân tộc Mông khoảng 50 tuổi theo lời khai của bị cáo Quàng Văn L là người đã bán ma túy cho Quàng Văn L và Quàng Văn T. Do bị cáo không biết tên tuổi địa chỉ chính xác nên cơ quan CSĐT không đủ thông tin xác minh làm rõ nên không đề cập xử lý vụ án. HĐXX chấp nhận.

Đối với người đàn ông dân tộc Kinh,khoảng 25-30 tuổi, theo lời khai của bị cáo Quàng Văn L là người đã đưa số tiền 200.000đ cho bị cáo và nhờ đi mua ma túy về để cùng sử dụng. Do bị cáo không biết họ tên, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan CSĐT công an huyện Điện Biên Đông không đủ thông tin để điều tra làm rõ, HĐXX không đề cập xử lý.

Đối với Quàng Văn T, sinh năm 1967, trú tại bản H, xã P, huyện Đ, tỉnh Đ, theo lời khai của bị cáo là người mua hai viên Methamphetamine. Cơ quan CSĐT đã triệu tập, xác minh đối tượng để làm việc nhưng Quàng Văn T vắng mặt tại địa bàn nơi cư trú. Nên cơ quan CSĐT chưa làm rõ được khi nào làm rõ sẽ xử lý sau. HĐXX, xem xét cần chấp nhận.

. Về án phí: Tại phiên tòa bị cáo xin miễn án phí hình sự sơ thẩm vì là người dân tộc Thái sinh sống tại địa bàn kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn. Cho nên, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm đ Khoản 1 Điều 12, Khoản 6 Điều 15 Nghị Quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điểm i Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;

Căn cứ Điểm c Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điểm a Khoản 2 và Điểm a Khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ vào Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ Điều 135; Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm đ Khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội 14.

1. Tuyên bố: Bị cáo Quàng Văn L phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Xử phạt bị cáo Quàng Văn L 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 20/9/2021.

2. Về vật chứng vụ án:

+ Tịch thu tiêu hủy 0,7 gam Heroine còn lại sau giám định

+ Tịch thu tiêu hủy 0, 09 gam Methamphetamine còn lại sau giám định.

+ Trả lại 01 chiếc điện thoại di động màn hình cảm ứng, kiểu máy: Redmi Note 7; IMEI 1: 864605048168539; IMEI 2: 86460508528534 màn hình chiếc điện thoại bị vỡ máy cũ đã qua sử dụng cho bị cáo.

+ Trả lại 01 chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA, WAVE RSX, màu đỏ đen, biển kiểm soát 27B1-552.66; số máy: JA38E-0054917; số khung: RLHJA3811GY023217, xe cũ đã qua sử dụng (kèm theo chìa khóa) cho chủ sở hữu hợp pháp là ông Quàng Văn C, sinh năm 1956, trú tại bản H, xã Pu Nhi, huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên.

Vật chứng đã được niêm phong và bàn giao sang Chi cục Thi hành án dân sự huyện Điện Biên Đông theo biên bản giao nhận vật chứng vào hồi 16 giờ 00 phút ngày 15/11/2021 giữa cơ quan Công an huyện Điện Biên Đông và Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Điện Biên Đông.

3. Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Quàng Văn L.

Án xử công khai, kết thúc cùng ngày, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án ( 30/11/2021). Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt được kháng cáo bản án về những vấn đề liên quan trực tiếp đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 30/11/2021)./.

Cỡ chữ