vanban.org

Bản án 24/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh Tuyên án 26/05/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Sơn Thị H phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt bị cáo Sơn Thị H 20.000.000 đồng. Tuyên bố bị cáo Trần Thị H1 phạm tội “Đánh bạc”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Sơn Thị H phạm tội “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2021/HS-ST
Ngày 26-5-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Khoa.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Huỳnh Ngọc Song;

Bà Trần Thị Sang.

- Thư ký phiên tòa: Bà Kiên Thị Minh Hiếu - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Phan Văn Hiếu - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 5 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 42/2021/TLST-HS ngày 26 tháng 4 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 38/2021/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 5 năm 2021 đối với các bị cáo:

1. Sơn Thị H, tên gọi khác: Không có, sinh ngày / tháng / năm 1987, tại tỉnh Trà Vinh. Nơi cư trú: Ấp B, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh; nghề nghiệp: Không có nghề nghiệp; trình độ học vấn: 04/12; dân tộc: Khmer; giới tính: Nữ; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Sơn N (đã chết) và bà Huỳnh Thị T; có chồng và 01 con; tiền án: Không, tiền sự: 01 tiền sự, ngày 18 tháng 6 năm 2020 bị Công an xã L xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc, đã chấp hành xong nhưng tính đến ngày phạm tội chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý hành chính; nhân thân: Không tốt; bị áp dụng biện pháp ngăn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 09 tháng 02 năm 2021 cho đến nay (có mặt).

2. Trần Thị H1, tên gọi khác: Không có, sinh ngày / tháng / năm 1983, tại tỉnh Sóc Trăng. Nơi đăng ký thường trú: Ấp A, xã A3, huyện C, tỉnh Sóc Trăng; nơi tạm trú: Ấp L, Phường T, thành phố T, tỉnh Trà Vinh; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn B và bà Nguyễn Thị H; chưa có chồng, con; tiền án: Không, tiền sự: 01 tiền sự, ngày 18 tháng 6 năm 2020 bị Công an xã L xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc, đã chấp hành xong nhưng tính đến ngày phạm tội chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý hành chính; nhân thân: Không tốt; bị áp dụng biện pháp ngăn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 09 tháng 02 năm 2021 cho đến nay (có mặt).

- Người bào chữa cho bị cáo Sơn Thị H: Ông Phạm Thanh P là Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Trà Vinh (có mặt).

- Người phiên dịch: Ông Nhan S;

Địa chỉ: Ấp P, xã M, huyện C, tỉnh Trà Vinh (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 18 giờ 30 phút, ngày 27 tháng 11 năm 2020, Công an xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh nhận được tin báo của quần chúng nhân dân, tại khu đất phía sau nhà bà Thạch Thị S, sinh năm 1955, tại ấp B, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh có nhiều đối tượng đang tụ tập đánh bạc trái phép được thua bằng tiền. Sau khi nhận được tin báo đến khoảng 19 giờ 00 phút cùng ngày, Công an xã L tiến hành kiểm tra thì bắt quả tang Sơn Thị H, Trần Thị H1, Trương Thị H2, sinh năm 1986, nơi cư trú ấp B, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh đang đánh bạc trái phép được thua bằng tiền. Khi bắt quả tang thì Nguyễn Thị M, sinh năm 1974, nơi cư trú ấp B, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh đang tham gia đánh bạc trái phép được thua bằng tiền, chạy thoát khỏi hiện trường.

Tang vật thu giữ gồm: 02 (hai) bộ bài tây 52 lá đã qua sử dụng; 02 (hai) điện thoại di động màu đen hiệu Viettel và Masstel đã qua sử dụng; số tiền 900.000 đồng trên chiếu bạc. Thu giữ trên người của Trần Thị H1 số tiền 1.900.000 đồng; Sơn Thị H số tiền 600.000 đồng và 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO5, màu xanh đã qua sử dụng, có ốp lưng hình chân dung của H.

Qua điều tra xác minh vụ vi phạm hành chính có dấu hiệu tội phạm nên Công an xã L chuyển hồ sơ đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Châu Thành giải quyết theo thẩm quyền. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Châu Thành thì Sơn Thị H, Trần Thị H1, Trương Thị H2, Nguyễn Thị M khai nhận:

Vào khoảng 18 giờ 00 phút, ngày 27 tháng 11 năm 2020, Sơn Thị H và Trần Thị H1 đến khu đất phía sau nhà bà Thạch Thị S tại ấp B, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh để tham gia đánh bài ăn thua bằng tiền với Trương Thị H2 và Nguyễn Thị M. Các đối tượng thỏa thuận hình thức đánh bạc là bài binh Ấn Độ sáu lá, gồm có bốn tụ bài, mỗi người một tụ, M làm cái chia bài những người còn lại thì đặt tụ, mỗi bàn người chơi đặt tiền từ 10.000 đồng đến 50.000 đồng, mỗi bàn 03 tụ đặt thấp nhất 50.000 đồng, cao nhất 150.000 đồng. Sau khi M chia bài xong và vỡ bài thì bài ai lớn nút sẽ thắng, việc thắng thua trực tiếp với người làm cái là M, người thắng sẽ nhận số tiền bằng với số tiền đặt cược. Sau đó, H và H1 cùng H2 và M tham gia đánh bạc trái phép khoảng hơn 10 bàn, sử dụng bộ bài tây để chơi. H khi tham gia đánh bạc mang theo 550.000 đồng, sử dụng 50.000 đồng để đánh bạc, sau khi chơi thì thắng được 50.000 đồng. H1 khi tham gia đánh bạc mang theo 2.000.000 đồng, sử dụng 100.000 đồng để đánh bạc, sau khi chơi thì thua 50.000 đồng. M khi tham gia đánh bạc mang theo 400.000 đồng, sau khi chơi thì thua hết. H2 khi tham gia đánh bạc mang theo 200.000 đồng, sau khi chơi thì thua hết. Đến khoảng 19 giờ 00 phút, ngày 27 tháng 11 năm 2020, Công an xã L tiến hành kiểm tra thì bắt quả tang các đối tượng đang tham gia đánh bạc trái phép, thu giữ các tang vật nói trên. Riêng M chạy thoát khỏi hiện trường.

Qua xác minh vào ngày 18 tháng 6 năm 2020, Sơn Thị H và Trần Thị H1 đã bị Công an xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 15/QĐ-XPHC và 17/QĐ-XPHC với hình thức phạt tiền mỗi người là 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc trái phép theo quy định tại điểm a, khoản 2, Điều 26 của Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ. H và H1 đã nộp tiền phạt xong vào các ngày 18 tháng 6 năm 2020 và 19 tháng 6 năm 2020. Tính đến ngày 27 tháng 11 năm 2020 chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý hành chính.

Tại bản Cáo trạng số 22/CT-VKS.HS ngày 23 tháng 4 năm 2021 Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh đã truy tố bị cáo Sơn Thị H và bị cáo Trần Thị H1 về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, bị cáo Sơn Thị H và bị cáo Trần Thị H1 thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố, không có ý kiến và khiếu nại về nội dung của Cáo trạng cũng như các quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của các cơ quan và người tiến hành tố tụng. Các bị cáo cũng không tranh luận với ý kiến của đại diện Viện kiểm sát và không trình bày ý kiến tại lời nói sau cùng.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Sơn Thị H và bị cáo Trần Thị H1 về tội “Đánh bạc”, theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Vị đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo Sơn Thị H và bị cáo Trần Thị H1 là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đối với bị cáo Sơn Thị H có thêm tình tiết giảm nhẹ là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng khó khăn. Đối với bị cáo Trần Thị H1 có thêm tình tiết giảm nhẹ là cha bị cáo là người có công với cách mạng. Đây là các tình tiết giảm nhẹ theo điểm i, s khoản 1; khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Viện kiểm sát đề nghị áp dụng: khoản 1 điều 321; điểm i, s khoản 1; khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 35 của của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Sơn Thị H và bị cáo Trần Thị H1 mỗi bị cáo từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng.

Về vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 02 bộ bài tây 52 lá đã qua sử dụng; tịch thu sung quỹ nhà nước 02 điện thoại di động màu đen hiệu Viettel và Masstel đã qua sử dụng và số tiền 950.000 đồng các bị cáo dùng để đánh bạc; giao trả cho bị cáo Sơn Thị H 01 điện thoại di động hiệu OPPO 5, màu xanh, đã qua sử dụng, có ốp lưng hình chân dung của bị cáo Sơn Thị H; giao Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh tiếp tục quản lý số tiền 1.900.000 đồng của bị cáo Trần Thị H1 và 550.000 đồng của bị cáo Sơn Thị H để đảm bảo cho việc thi hành án.

Về án phí hình sự sơ thẩm các bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Người bào chữa cho bị cáo Sơn Thị H có ý kiến: Thống nhất với quan điểm của Viện kiểm sát về tội danh, các tình tiết giảm nhẹ và hình phạt đối với bị cáo H. Người bào chữa đề nghị xem xét thêm các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo H đó là phạm tội nhất thời, số tiền đánh bạc không lớn, bị cáo có nhận thức pháp luật thấp, là lao động chính trong gia đình để tuyên bị cáo mức hình phạt thấp nhất so với đề nghị của Viện kiểm sát.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay Hội đồng xét xử đã thẩm tra các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người bào chữa trong quá trình điều tra, tuy tố xét xử và nhận thấy các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người bào chữa đều đúng với quy định của pháp luật. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng cũng như các chứng cứ được thu thập trong quá trình điều tra.

Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, các bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 18 giờ 00 phút ngày 21 tháng 11 năm 2020, tại khu đất phía sau nhà bà Thạch Thị S tại ấp B, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh, Sơn Thị H, Trần Thị H1, Trương Thị H2 cùng Nguyễn Thị M đã có hành vi đánh bạc trái phép được thua bằng tiền với tổng số tiền dùng vào việc đánh bạc là 950.000 đồng. Trong đó tiền thu trên chiếu bạc là 900.000 đồng, tiền thu trên người Sơn Thị H là 50.000 đồng dùng để đánh bạc. Trước đó, vào ngày 18 tháng 6 năm 2020, Sơn Thị H và Trần Thị H1 đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc. Tính đến ngày phạm tội chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý hành chính. Do đó cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành truy tố bị cáo Sơn Thị H và bị cáo Trần Thị H1 về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là đúng người, đúng tội, không oan, sai.

Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo là ít nghiêm trọng, đã xâm phạm đến trật tự công cộng được pháp luật bảo vệ. Các bị cáo phạm tội với lỗi cố ý, hành vi phạm tội đã hoàn thành. Các bị cáo đều là người đã thành niên, có đầy đủ năng lực hành vi và đều đã từng bị xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc trái phép. Do đó các bị cáo biết rõ hành vi đánh bạc trái phép được thua bằng tiền là vi phạm pháp luật. Tuy nhiên do muốn có tiền bằng cách sát phạt lẫn nhau, các bị cáo đã cố tình thực hiện hành vi phạm tội. Xét thấy hành vi đánh bạc trái phép được thua bằng tiền không chỉ xâm phạm đến trật tự công cộng mà còn là nguồn cơn gây ra tan vỡ hạnh phúc gia đình và là tiền đề phát sinh các tội phạm khác. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy cần xử phạt các bị cáo một mức án nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội nhằm giáo dục riêng cho các bị cáo và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên toà, các bị cáo đều tỏ rõ thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Riêng đối với bị cáo Sơn Thị H là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, bị cáo Trần Thị H1 có cha ruột là người có công với cách mạng nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về xử lý vật chứng: Đối với vật chứng là 02 bộ bài tây 52 lá đã qua sử dụng, không còn giá trị nên tịch thu tiêu hủy. Đối với 02 điện thoại di động màu đen hiệu Viettel và Masstel đã qua sử dụng không xác định được chủ sở hữu nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

Đối với số tiền 3.400.000 đồng thu giữ tại hiện trường, trong đó có 950.000 đồng các bị cáo dùng để đánh bạc là khoản tiền thu lợi bất chính nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước. Đối với số tiền còn lại có 1.900.000 đồng của bị cáo Trần Thị H1 và 550.000 đồng của bị cáo Sơn Thị H không dùng vào việc đánh bạc nên hoàn trả lại cho các bị cáo. Tuy nhiên cần giao cho cơ quan thi hành án tiếp tục quản lý để bảo đảm cho việc thi hành án. Đối với 01 điện thoại di động hiệu OPPO 5, màu xanh, đã qua sử dụng, có ốp lưng hình chân dung của bị cáo Sơn Thị H là tài sản của bị cáo H không dùng vào việc đánh bạc nên hòa trả lại cho bị cáo H.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Đối với Trương Thị H2 và Nguyễn Thị M có hành vi đánh bạc trái phép được thua bằng tiền nhưng số tiền đánh bạc chưa đủ định lượng, bản thân H2 và M chưa có tiền án, tiền sự nên Công an xã L phạt hành chính mỗi người 1.500.000 đồng là đúng quy định. Đối với bà Thạch Thị S không có thu tiền xâu và không có mặt ở nhà vào thời điểm xảy ra vụ việc. Trong quá trình tố tụng cũng không có căn cứ chứng minh bà S có hành vi tổ chức đánh bạc nên không có cơ sở xem xét trách nhiệm hình sự đối với bà S.

Đối với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành là có căn cứ để chấp nhận. Đối với quan điểm của người bào chữa cho bị cáo Sơn Thị H là có căn cứ để chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 35 của của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Tuyên bố bị cáo Sơn Thị H phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt bị cáo Sơn Thị H 20.000.000 đồng.

Căn cứ khoản 1 điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 35 của của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Tuyên bố bị cáo Trần Thị H1 phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt bị cáo Trần Thị H1 20.000.000 đồng.

Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 02 bộ bài tây 52 lá đã qua sử dụng.

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 950.000 đồng các bị cáo dùng để đánh bạc; 02 điện thoại di động màu đen hiệu Viettel và Masstel đã qua sử dụng.

Trả lại cho bị cáo Sơn Thị H 01 điện thoại di động hiệu OPPO 5, màu xanh, đã qua sử dụng, có ốp lưng hình chân dung của bị cáo Sơn Thị H.

Giao Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh tiếp tục quản lý số tiền 1.900.000 đồng của bị cáo Trần Thị H1 và số tiền 550.000 đồng của bị cáo Sơn Thị H để đảm bảo cho việc thi hành án.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Sơn Thị H và bị cáo Trần Thị H1 mỗi bị cáo chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ