- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án Lương Văn T và Tăng Thị C"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Anh Lương Văn T được ly hôn chị Tăng Thị C.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 24/2021/HNGĐ-ST Ngày 22/2/2021 “V/v ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ong Thân Thắng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Chiến - Cán bộ hưu.
Bà Lê Thị Minh Khánh - Cán bộ hưu.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dung- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Đặng Văn Thìn - Kiểm sát viên trung cấp.
Trong ngày 22/02/2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 08/2020/TLST-HNGĐ ngày 13/01/2020 về việc tranh chấp Hôn nhân và gia đình”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 142/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 29/12/2020, Quyết định hoãn phiên tòa số 10/2021/QĐST-HNGĐ ngày 22/01/2021; giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Anh Lương Văn T, sinh ngày 07/7/ 1974.
ĐKHKTT: thôn B, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
* Bị đơn: Chị Tăng Thị C, sinh ngày 26/3/1974.
ĐKHKTT: thôn B, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Hiện đang lao động tại Đảo Síp, không rõ địa chỉ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai trong quá trình làm việc tại Tòa án, nguyên đơn là anh Lương Văn T trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Tăng Thị C có được tự do tìm hiểu và được sự nhất trí của hai bên gia đình đã tự nguyện kết hôn với nhau, đăng kí kết hôn ngày 07/12/1993 tại UBND xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được 16 năm. Đến năm 2009 vợ chồng bắt đầu nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do khó khăn về kinh tế. Tháng 3 năm 2010 thì chị C đi nước ngoài làm ăn, kể từ đó đến nay giữa anh và chị C không còn tình cảm với nhau. Nay xác định tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Tăng Thị C.
- Về con chung: Vợ chồng anh có 02 con chung là cháu Lương Văn V, sinh năm 1995 và cháu Lương Văn Th sinh năm 1998. Hiện nay các cháu đã trưởng thành nên anh không đề nghị Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung, công nợ chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn là chị Tăng Thị C hiện đang lao động ở nước ngoài, không có địa chỉ cụ thể. Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật đối với chị C.
* Tòa án đã xác minh thu thập chứng cứ thông qua người thân là anh Tăng Văn Q - sinh năm 1975. Địa chỉ: Thôn H, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Anh Q là em trai chị C có quan điểm trình bày:
Anh là em trai của chị Tăng Thị C có địa chỉ như trên. Hiện nay chị C đã đi nước ngoài không có mặt tại địa phương, nhưng vẫn thường xuyên liên lạc về với gia đình anh. Về địa chỉ của chị C ở bên nước ngoài thì anh không biết nên không thể cung cấp cho Tòa án. Tòa án yêu cầu gia đình tôi thông báo để chị C gửi quan điểm, địa chỉ về cho Tòa án thì anh từ chối thực hiện.
Về việc anh T xin ly hôn chị Tăng Thị C thì chị C có quan điểm là đồng ý ly hôn với anh T.
Về con chung: Có 02 con chung là cháu Vũ và cháu Thanh đã trưởng thành nên chị C không có ý kiến gì.
Về tài sản chung, công nợ: chị C hiện nay không có ở nhà nên chị C đề nghị Tòa án giải quyết ở vụ án khác.
* Tại phiên tòa sơ thẩm, anh Lương Văn T xin vắng mặt, không có quan điểm gì khác về yêu cầu khởi kiện xin ly hôn. Chị Tăng Thị C vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử tóm tắt nội dung vụ án, công bố các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
* Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, nguyên đơn kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã được đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Bị đơn không chấp hành quy định của pháp luật.
- Về nội dung: Căn cứ các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ xét thấy tình trạng mâu thuẫn của đương sự là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Đề nghị Hội đồng xét xử (sau đây viết tắt là HĐXX) căn cứ vào khoản 1, Điều 51; khoản 1, Điều 53; khoản 1, Điều 56-Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 giải quyết cho anh Lương Văn T được ly hôn chị Tăng Thị C .Về con chung: Các con chung đã trưởng thành anh T không đề nghị Tòa án giải quyết nên không đặt ra giải quyết. Tài sản chung, công nợ: anh T không đề nghị Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết. Về án phí: căn cứ khoản 4, Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a, khoản 5, Điều 27- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội buộc anh Lương Văn T phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát. Sau khi thảo luận và nghị án. Hội đồng xét xử nhận định:
.Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết vụ án: Anh Lương Văn T là người Việt Nam, có hộ khẩu thường trú tại: thôn B, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang có đơn xin ly hôn đối với chị Tăng Thị C. Bị đơn chị Tăng Thị C là người Việt Nam, có hộ khẩu thường trú tại thôn B, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang nhưng đang cư trú ở nước ngoài không có địa chỉ cụ thể. Căn cứ công văn số: 712/QLXNC-P5 ngày 16/01/2020 của Cục quản lý xuất nhập cảnh - Bộ Công an thì chị Tăng Thị C đã xuất cảnh ra nước ngoài ngày 19/03/2010, chưa thấy thông tin nhập cảnh về Việt Nam. Từ các nội dung trên, HĐXX xác định: về quan hệ pháp luật đây là vụ án “ly hôn” theo quy định tại khoản 1, Điều 28- Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; về thẩm quyền: do có đương sự ở nước ngoài nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang, theo quy định tại khoản 2, Điều 123- Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 3, Điều 35; điểm c, khoản 1, Điều 37- Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
. Về sự vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa anh Lương Văn T vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt; chị Tăng Thị C vắng mặt không có lý do. Căn cứ theo hướng dẫn tại công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 hướng dẫn về việc giải quyết vụ án ly hôn có bị đơn là người Việt Nam ở nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ thì đây được coi là trường hợp chị Tăng Thị C cố tình giấu địa chỉ. Tòa án đã niêm yết tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng cho chị Tăng Thị C theo quy định tại khoản 5, Điều 177; Điều 179 - Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. HĐXX thấy việc vắng mặt của các đương sự không ảnh hưởng quá trình giải quyết vụ án. Do vậy căn cứ điểm b, khoản 2, Điều 227; khoản 3, Điều 228- Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với chị C và anh T.
. Về quan hệ hôn nhân:
. Anh Lương Văn T kết hôn với chị Tăng Thị C trên cơ sở có sự tự do tìm hiểu, tự nguyện, đăng ký kết hôn ngày 07/12/1993 tại UBND xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Trong giấy chứng nhận kết hôn của UBND xã Bảo Sơn có ghi anh Lương Văn T, sinh ngày 02/12/1974 và chị Tăng Thị C, sinh ngày 10/6/1974. Tuy nhiên theo giải trình của anh T trong sổ hộ khẩu gia đình và các giấy tờ tùy thân thì anh T sinh ngày 07/7/1974, chị C sinh ngày 26/3/1974. Qua lời khai của anh T và xác nhận của UBND xã Bảo Sơn thì có căn cứ xác định anh Lương Văn T, chị Tăng Thị C trong giấy chứng nhận kết hôn chính là anh Lương Văn T, chị Tăng Thị C đang có yêu cầu giải quyết ly hôn. Do đó quan hệ hôn nhân giữa anh Lương Văn T, chị Tăng Thị C được coi là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Theo trình bày của anh T thì: Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được 16 năm. Đến năm 2009 vợ chồng bắt đầu nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do khó khăn về kinh tế. Tháng 3 năm 2010 thì chị C đi nước ngoài làm ăn, kể từ đó đến nay giữa anh T và chị C không còn tình cảm với nhau, không liên lạc với nhau nữa. Nay xác định tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được anh T đề nghị Tòa án giải quyết cho cho anh được ly hôn với chị Tăng Thị C.
. Hội đồng xét xử thấy: Quan hệ hôn nhân giữa anh Lương Văn T và chị Tăng Thị C là hợp pháp. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn. Hiện anh Lương Văn T và chị Tăng Thị C mỗi người sống một nơi, xa cách về địa lý và không còn quan tâm, chia sẻ với nhau trong cuộc sống nữa, vợ chồng mâu thuẫn cắt đứt liên lạc. Theo quy định tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và Gia đình thì vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình nhưng anh Lương Văn T và chị Tăng Thị C đã không thực hiện nghĩa vụ vợ chồng theo như các quy định đã nêu ở trên.
Như vậy, tình trạng mâu thuẫn vợ chồng giữa anh Lương Văn T và chị Tăng Thị C đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, HĐXX căn cứ khoản 1, Điều 51; khoản 1, Điều 53; khoản 1, Điều 56 - Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 xử cho anh Lương Văn T được ly hôn chị Tăng Thị C.
. Về con chung: Anh Lương Văn T và chị Tăng Thị C có 02 con chung là cháu Lương Văn V- sinh ngày 09/9/1995 và cháu Lương Văn Th sinh ngày 19/02/ 1998. Hiện nay các cháu đã trưởng thành anh T không đề nghị Tòa án giải quyết về con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết
. Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản (công nợ): các đương sự hiện không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không đặt ra xem xét.
Sau này nếu có tranh chấp tài sản chung, các khoản nợ chung thì các đương sự có quyền đề nghị Tòa án giải quyết bằng vụ án khác.
. Về án phí: Căn cứ quy định tại khoản 4, Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a, khoản 5, Điều 27- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, buộc anh Lương Văn T phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm.
. Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271; Điều 273 và khoản 2, Điều 479- Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1, Điều 51; khoản 1, Điều 53; khoản 1, Điều 56; khoản 2, Điều 123- Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1, Điều 28; khoản 3, Điều 35; điểm c, khoản 1, Điều 37; khoản 4, Điều 147; điểm b, khoản 2, Điều 227; khoản 3, Điều 228; điểm b, khoản 1, Điều 238; Điều 271; Điều 273; khoản 2, Điều 479- Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a, khoản 5, điểm a, khoản 6, Điều 27-Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án. Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Lương Văn T được ly hôn chị Tăng Thị C.
2. Về án phí: Anh Lương Văn T phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí sơ thẩm theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2018/0000551 ngày13/01/2020 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.
3. Về quyền kháng cáo:
- Chị Tăng Thị C hiện đang cư trú ở nước ngoài, không có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng (30 ngày) kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
- Anh Lương Văn T cư trú tại Việt Nam, không có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Án xử công khai sơ thẩm.
| Nơi nhận: - TAND Cấp Cao tại Hà Nội; - VKSND tỉnh Bắc Giang; - Cục THADS tỉnh Bắc Giang - UBND xã B, huyện L - Cổng thông tin điện tử TANDTC; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án, HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (đã ký) Ong Thân Thắng |