- Tranh chấp gì? án hình sự — "VÕ PH - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo VÕ PH phạm “tội tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. P TỈNH N ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 24/2020/HS-ST Ngày: 04/05/2020 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ P
TỈNH N
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ninh Thị Kiều Hạnh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Bình- Ông Lê Đình Nguyên
- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Minh Hằng – Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố P tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Diệu - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 5 năm 2020 tại Hội trường Tòa án nhân dân thành phố P xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 22/2020/TLST-HS ngày 06 tháng 3 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2020/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 4 năm 2020, đối với bị cáo:
VÕ PH, PH ngày 02 tháng 7 năm 1988, tại N. Nơi ĐKNKTT: khu phố 3, phường Đ, thành phố P, tỉnh N; nghề nghiệp: lái xe; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Khánh Hưng và bà Ngô Việt Tuyết Loan; tiền án, tiền sự: không. Nhân thân:
- Ngày 16/3/2016, Trưởng Công an thành phố Phan Rang xử phạt 1.500.000 đồng do đánh bạc trái phép. Bị cáo nộp phạt ngày 28 tháng 3 năm 2016.
- Ngày 30 tháng 10 năm 2017, Trưởng Công an phường Tấn Tài xử phạt 750.000 đồng do bị cáo say rượu bia gây rối trật tự công cộng. Bị cáo nộp phạt ngày 30 tháng 10 năm 2017.
Bị cáo tạm giữ từ ngày 19 tháng 12 năm 2019 theo Biên bản bắt người phạm tội quả tang, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố P. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
1
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 04 giờ 00 phút ngày 19 tháng 12 năm 2019, Công an phường Đô Vinh phối hợp cùng Đội CSĐT Công an thành phố P, tỉnh N tiến hành kiểm tra cư trú tại nhà VÕ PH ở khu phố 3, phường Đô Vinh, thành phố P. Vào thời điểm kiểm tra, tại hộ gia đình chỉ có một nhân khẩu là VÕ PH. Quá trình kiểm tra, lực lượng kiểm tra phát hiện PH có biểu hiện sử dụng ma túy đá và đã tiến hành làm việc với PH. PH thừa nhận có sử dụng trái phép chất ma túy, đồng thời tự nguyện giao nộp cho lực lượng công an tổng cộng 05 bịch ma túy cất giấu trong túi quần và dưới tủ quần áo trong phòng ngủ của PH. Lực lượng kiểm tra đã tiến hành lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với PH, đồng thời tiến hành tạm giữ 05 bịch nylon được hàn kín, bên trong bịch nylon có chứa những tinh thể dạng rắn màu trắng, nghi là ma túy đá.
Tiếp tục kiểm tra nơi ở của PH, lực lượng công an đã phát hiện và tạm giữ những đồ vật, tài liệu như sau:
- 01 điện thoại di động hiệu M, màu xanh đen, số IMEI 1:
3010141664191xx, IMEI 2: 3010141664191xx, máy cũ đã qua sử
dụng, không kiểm tra chi tiết bên trong máy;
- 01 cân tiểu ly;
- 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy;
- 01 bịch ny lon được hàn kín ba mặt, bên trong 3 bịch ny lon không
có gì.
Tại bản kết luận giám định số 18/KLGĐ- PC09 ngày 23 tháng 12 năm 2019 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh N kết luận: “chất rắn dạng tinh thể màu trắng chứa trong 05 gói nylon được hàn kín đựng trong gói niêm phong là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng mẫu gửi gíam định là 1,5070g (một phẩy năm không bảy không gam). (bút lục 19).
Quá trình điều tra, VÕ PH khai nhận: để có ma túy sử dụng, khoảng 07 giờ ngày 18 tháng 12 năm 2019, PH đi đến khu vực gần club HH gặp một người tên T (không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể của Tài) hỏi mua 05 bịch ma túy đá với tổng giá tiền là 1.000.000 đồng. Sau khi mua ma túy đá của T, PH đã mang về nhà ở khu phố 3, phường Đ, thành phố P, tỉnh N cất giữ để sử dụng dần. Đến khoảng 4 giờ ngày 19 tháng 12 năm 2019, lực lượng
2
Công an đã tiến hành kiểm tra hành chính tại nhà của PH và PH đã tự nguyện giao nộp 05 bịch ma túy nêu trên.
Cáo trạng số 25/QĐ-VKSPR ngày 04/3/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pđã truy tố bị cáo VÕ PH về “tội tàng trữ bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố theo cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo từ 18 tháng đến 24 tháng tù về tội “tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 điều 249, điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không tham gia tranh luận. Khi nói lời sau cùng, bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi trái pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố P, Viện kiểm sát nhân dân thành phố P, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục tố tụng theo quy định tại Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo VÕ PH thừa nhận: bị cáo đã tàng trữ trái phép 1,5070 gram chất ma túy loại Methamphetamine. Lời khai của bị cáo phù hợp với chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, cáo trạng số 25/QĐ-VKSPR ngày 04/3/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pđã truy tố bị cáo về “ tội tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 của Bộ luật Hình sự với tình tiết định khung tăng nặng “hêrôin, côcain, Methaphetamine, MDMA có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 5 gam” là có căn cứ, đúng pháp luật. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã vi phạm chính sách độc quyền quản lý ma túy cuả Nhà nước, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, cần phải xử lý nghiêm khắc.
3
Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xét thấy: bị cáo đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội, là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1điều 51 Bộ luật Hình sự , nên xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Vật chứng của vụ án:
Hội đồng xét xử xét thấy nên tịch thu tiêu hủy những đồ vật tài liệu sau đây:
- 1,2708g chất ma túy, loại Methamphetamine (là mẫu vật còn lại sau
giám định);
- 01 cân tiểu ly, hiện cân đã không sử dụng được.
- 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy.
- 01 bịch nylong trong hàn kín ba mặt, bên trong không có ma túy do
PH đã sử dụng hết.
Hội đồng xét xử xét thấy, đối với 01 điện thoại di động hiệu M, màu xanh đen, số IMEI 1: 3010141664191xx, IMEI 2: 3010141664191xx, do bị cáo dùng điện thoại này để liên lạc với T mua ma túy tàng trữ, nên tịch thu sung quỹ Nhà nước.
Đối với đối tượng tên T đã bán ma túy cho PH, hiện nay chưa xác định được lai lịch, tên thật, địa chỉ cụ thể nên chưa xử lý được. Cơ quan cảnh sát điều tra sẽ tiếp tục điều tra xác minh làm rõ, khi nào có căn cứ sẽ xử lý sau.
Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo VÕ PH phạm “tội tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ vào: Điểm c khoản 1 điều 249, điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật Hình sự 2015.
Xử phạt: Bị cáo VÕ PH 24 (hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19 tháng 12 năm 2019.
Về xử lý vật chứng:
Áp dụng: Điều 47 Bộ luật Hình sự , điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Tuyên tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động hiệu M, màu xanh đen, số IMEI 1: 3010141664191xx, IMEI 2: 3010141664191xx, máy
4
cũ đã qua sử dụng, không kiểm tra chi tiết bên trong máy.
Tuyên tịch thu tiêu hủy những đồ vật tài liệu sau đây:
- 1,2708g chất ma túy, loại Methamphetamine (là mẫu vật còn lại sau giám định); được niêm phong trong gói màu trắng có chữ ký và họ tên của Nguyễn Ng, chữ ký và họ tên của Trần H, Trịnh Đ và dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh N.
- 01 cân tiểu ly; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy; 01 bịch nylong trong hàn kín ba mặt, bên trong không có gì;
Các vật chứng bao gồm: Điện thoại di động hiệu M, cân tiểu ly, 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy và 01 bịch nylon hàn kín ba mặt, bên trong không có gì được niêm phong trong túi mã số NS2A- 0360xx, bên ngoài túi niêm phong có chữ ký và họ tên của điều tra viên Nguyễn H. M., có chữ ký và họ tên của Trần Đ. Ch và VÕ PH.
Các vật chứng tạm giữ tại Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố P theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 19 tháng 3 năm 20202 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố P và Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố P.
Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai, sơ thẩm, có mặt bị cáo. Quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Người tham gia tố tụng;
THẨM PHÁN- CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA
- TAND tỉnh NT;
- Chi cụcTHADS TPP;
- VKSND TP.P;
- Công an tp. P;
- Sở Tư pháp tỉnh N;
- VKSND tỉnh N;
- Lưu HS+ án;
Ninh Thị Kiều Hạnh
5
Mai Tuấn
Trần Hoàng Liên
Ninh Thị Kiều Hạnh
6
7
Nguyễn Lê Anh Thƣ Trần Quốc Huy
Ninh Thị Kiều Hạnh
8
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
9
10
11
12
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN- CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA
13
14
Hướng dẫn sử dụng mẫu số 27-HS:
Mẫu bản án hình sự sơ thẩm kèm theo bản hướng dẫn này được soạn thảo theo tinh thần quy định tại các điều 254, 260 và 423 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Mẫu bản án hình sự sơ thẩm kèm theo hướng dẫn này được sử dụng cho tất cả các Tòa án khi xét xử sơ thẩm vụ án hình sự. Sau đây là những hướng dẫn cụ thể về việc sử dụng mẫu bản án hình sự sơ thẩm kèm theo:
(1) và (4) nếu là Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh thì ghi tên Tòa án nhân dân quận (huyện, thị xã, thành phố) gì thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nào (ví dụ: Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An); nếu là Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thì ghi tên Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (ví dụ: Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội); nếu là Tòa án quân sự khu vực thì ghi tên Tòa án quân sự khu vực gì thuộc quân khu, quân chủng nào; nếu là Tòa án quân sự quân khu, quân chủng thì ghi tên Tòa án quân sự quân khu, quân chủng (ví dụ: Tòa án quân sự Quân khu Thủ đô).
(2) ô thứ nhất ghi số Bản án, ô thứ hai ghi năm ra Bản án (ví dụ: 16/2017/HS-ST).
(3) ghi ngày, tháng, năm tuyên án không phân biệt vụ án được xét xử sơ thẩm và kết thúc trong một ngày hay được xét xử sơ thẩm trong nhiều ngày hoặc nghị án kéo dài.
(5) nếu Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm ba người, thì chỉ ghi đầy đủ họ tên của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, bỏ dòng Thẩm phán..., đối với Hội thẩm nhân dân (quân nhân) chỉ ghi đầy đủ họ tên của hai Hội thẩm nhân dân (quân nhân); nếu Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có năm người, thì ghi đầy đủ họ tên của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, họ tên của Thẩm phán, họ tên của cả ba Hội thẩm nhân dân (quân nhân). Cần chú ý không ghi chức vụ của Thẩm phán; đối với vụ án hình sự thông thường thì không ghi chức vụ, nghề nghiệp của Hội thẩm nhân dân (quân nhân); đối với vụ án hình sự có bị cáo là người dưới 18 tuổi thì ghi nghề nghiệp của Hội thẩm nhân dân (quân nhân). Nếu vụ án do Tòa án quân sự giải quyết thì không ghi Ông (Bà) mà ghi cấp bậc quân hàm.
(6) ghi đầy đủ họ tên của Thư ký phiên tòa và ghi rõ là Thư ký Tòa án hoặc Thẩm tra viên của Tòa án nào như hướng dẫn tại điểm (1).
(7) ghi tên Viện kiểm sát như hướng dẫn tại (1); ghi họ tên Kiểm sát viên thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa.
(8) trường hợp vụ án được xét xử và kết thúc trong một ngày thì bỏ hai chữ Trong các (ví dụ: Ngày 15 tháng 7 năm 2017). Trường hợp vụ án được xét xử trong hai ngày thì ghi Trong các ngày (ví dụ: Trong các ngày 02, 03 tháng 3 năm 2017); nếu từ ba ngày trở lên mà liền nhau thì ghi Từ ngày đến ngày (ví dụ: Từ ngày 06 đến ngày 10 tháng 3 năm 2017); nếu từ ba ngày trở lên mà không liền nhau thì ghi Trong các ngày (ví dụ: Trong các ngày 07, 08 và ngày 15 tháng 3 năm 2017); nếu khác tháng mà liền nhau thì ghi từ ngày... tháng... đến ngày... tháng... (ví dụ: Từ ngày 31 tháng 05 đến ngày 02 tháng 6 năm 2017); nếu không liền nhau thì ghi các ngày của từng tháng (Ví dụ: Trong các ngày 30, 31 tháng 3 và các ngày 04, 05 tháng 4 năm 2017).
(9) nếu vụ án được xét xử tại trụ sở Tòa án thì ghi như hướng dẫn tại mục (1) (4). Nếu vụ án được xét xử lưu động thì ghi địa điểm nơi diễn ra phiên tòa.
(10) nếu xét xử kín thì thay cụm từ công khai bằng từ kín.
(11) và (12) ghi đầy đủ họ tên bị cáo và các bí danh, tên thường gọi khác (nếu có); nếu bị cáo là người dưới 18 tuổi phải ghi đầy đủ ngày, tháng, năm PH tính đến ngày bị cáo thực hiện hành vi phạm tội (ví dụ: Đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 16 tuổi 8
15
tháng 15 ngày); nếu bị cáo trên 18 tuổi thì ghi ngày, tháng, năm PH hoặc tuổi; ghi nơi đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú, nơi PH sống của bị cáo. Đối với tiền sự thì chỉ ghi khi đã xác định đúng theo quy định của pháp luật lần bị xử lý đó tính đến ngày phạm tội chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý hành chính hoặc bị xử lý kỷ luật. Đối với tiền án thì chỉ ghi khi đã xác định đúng theo quy định của pháp luật lần bị kết án đó tính đến ngày phạm tội chưa được xoá án. Về nhân thân ghi án tích, đã bị xử phạt vi phạm hành chính, đã xử lý kỷ luật cụ thể các lần đó và ghi rõ là các án tích, xử phạt vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật đó đã được xoá. Trường hợp bị cáo là pháp nhân thương mại thì ghi tên, địa chỉ trụ sở, tên người đại diện theo pháp luật, tiền án, tiền sự của pháp nhân thương mại và các thông tin cần thiết khác; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.
(13) ghi ngày bị cáo bị bắt, tạm giam; nếu trước đó bị cáo đã bị tạm giữ, bị bắt, tạm giam, thì ghi ngày bị tạm giữ, ngày bị bắt, tạm giam và ngày được cho tại ngoại; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.
(14) và (15) nếu bị cáo có người đại diện hợp pháp thì ghi rõ họ tên của bị cáo đó (ví dụ: Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Văn A). Sau chữ là ghi quan hệ như thế nào với bị cáo (ví dụ: là bố của bị cáo); nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.
(16) nếu có người bào chữa thì ghi đầy đủ họ tên của người bào chữa và họ tên của bị cáo được bào chữa; nếu người bào chữa là luật sư thì ghi luật sư của Văn phòng luật sư nào và thuộc Đoàn luật sư nào (ví dụ: Ông Trần B, Luật sư Văn phòng luật sư Vạn Xuân thuộc Đoàn luật sư tỉnh H bào chữa cho Nguyễn Văn C); nếu không phải là luật sư thì ghi nghề nghiệp, nơi công tác của người bào chữa (ví dụ: Bà Lê Thị M, bào chữa viên nhân dân công tác tại Hội luật gia tỉnh M bào chữa cho Nguyễn Văn D); nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.
(17), (18), (19), (20), (21), (22), (23) và (24) nếu có người nào tham gia tố tụng thì ghi đầy đủ họ tên, tuổi, nơi cư trú của người đó. Trường hợp bị hại là người bị xâm phạm về tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự và là người dưới 18 tuổi, thì phải ghi đầy đủ ngày, tháng, năm PH của bị hại; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.
(25) nếu bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có người bảo vệ quyền lợi cho họ, thì ghi đầy đủ họ tên của họ theo thứ tự; nếu người bảo vệ quyền lợi của đương sự là luật sư thì ghi luật sư của Văn phòng luật sư nào và thuộc Đoàn luật sư nào; nếu không phải là luật sư thì ghi nghề nghiệp, nơi công tác của người bảo vệ quyền lợi cho đương sự; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi có mặt và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi vắng mặt.
(26) nếu có người tham gia tố tụng là người làm chứng thì ghi đầy đủ họ tên; nếu người tham gia tố tụng là người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật thì ghi đầy đủ họ tên, cơ quan công tác.
(27) trong phần này, ghi đầy đủ các nội dung được quy định tại điểm b và điểm c khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
(28) trong phần này, ghi đầy đủ các nội dung được quy định tại các điểm d, đ và e khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Trong phần này, các đoạn văn được đánh số thứ thự trong dấu [ ].
(29) tùy từng trường hợp mà ghi rõ căn cứ pháp luật để ra quyết định.
(30) trong phần này, ghi đầy đủ các nội dung được quy định tại điểm g khoản 2
16
Điều 260 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
(31) phần cuối cùng của bản án, đối với bản án được thông qua tại phòng nghị án thì phải có đầy đủ chữ ký, ghi đầy đủ họ tên của các thành viên Hội đồng xét xử và đóng dấu (bản án này phải lưu vào hồ sơ vụ án); đối với bản án để gửi cho các bị cáo, các đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan và Viện kiểm sát theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự thì ghi như sau:
| Nơi nhận: hoặc gửi bản án theo quy định tại khoản 1 Điều 262 của Bộ luật Tố tụng hình sự và những nơi cần lưu bản án. 17 18 | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Ghi những nơi mà Tòa án cấp sơ thẩm phải giao THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Ký tên, ghi rõ họ tên, đóng dấu) |