vanban.org

Bản án 24/2020/HSST — Hình sự

TAND huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau Tuyên án 24/04/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: bị cáo Huỳnh Trường C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Huỳnh Trường C 01 (một) năm tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày 30/12/2019 (ngày bắt bị cáo). Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Huỳnh Trường C bị truy tố về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Huỳnh Trường C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẦN VĂN THỜI
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2020/HSST
Ngày 24-4-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Từ Thanh Nhung.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Việt Thắng.

Ông Trịnh Văn Điệp.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Huỳnh Hải - là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Dương Việt Khái - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 4 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 17/2020/HSST ngày 10 tháng 3 năm 2020 đối với bị cáo:

Họ và tên: Huỳnh Trường C, sinh năm 1993 tại Cà Mau. Tên gọi khác: Không. Nơi cư trú: Khóm 5, thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: Lớp 5/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Huỳnh Văn G và bà Nguyễn Thị A; vợ Sơn Thị Thanh H (đã ly hôn; tiền sự: Không; tiền án: Không; nhân thân: Tốt; bị cáo bị bắt phạm tội quả tang 30/12/2019 sau đó chuyển tạm giam cho đến nay. (Bị cáo có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 21 giờ 30 phút ngày 30/12/2019 tại khóm 5, thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau Công an thị trấn S tiến hành kiểm tra trên người của Huỳnh Trường C trong túi áo khoác của C đang mặc có 01 túi ni lông bên trong có chứa chất rắn màu trắng, qua giám định là ma túy. Quá trình làm việc C thừa nhận do nghiện ma túy nên mua để sử dụng, nhưng chưa sử dụng còn cất giữa trong túi áo thì bị bắt quả tang.

Vật chứng thu giữ: Ngày 30/12/2019 Công an thị trấn S thu: 01 túi (bọc) ni lông bên trong có chứa chất rắn màu trắng nghi là ma túy được niêm phong; 01 áo khoác màu đen; 01 điện thoại cảm ứng màu đen hiệu Vivo đã qua sử dụng; tiền Việt Nam 1.840.000 đồng; 01 xe mô tô hiệu Wave Alpha biển kiểm soát 69F1-114.43.

Kết luận giám định số: 18/GĐH-PC09 ngày 01/01/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Cà Mau, kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng bên trong bọc ni lông được niêm phong kín trong phong bì hình chữ nhật, ký hiệu M1/2020 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,2667 gram, loại Methamphetamine.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên cáo trạng số: 19/CT-VKS ngày 09/3/2020 truy tố bị cáo về tội tàng trữ trái phép chất ma túy và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo C mức án từ 01 năm tù đến 01 năm 6 tháng tù. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu và tiêu hủy mẫu tinh thể qua giám định có khối lượng 0,2315 gam (được niêm phong); trả lại cho bị cáo 01 áo khoác màu đen, 01 điện thoại cảm ứng màu đen hiệu Vivo đã qua sử dụng, tiền Việt Nam 1.840.000 đồng; đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát số 69F1-114.43 hiệu Wave Alpha giao cho Cơ quan điều tra Công an huyện T làm rõ xử lý sau.

Trước khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáo xin Hội đồng xét xử cho bị cáo hưởng mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, tỉnh Cà Mau, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Cà Mau, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên toà bị cáo đã thừa nhận vào khoảng 21 giờ 30 phút ngày 30/12/2019 tại khóm 5, thị trấn S, huyện T túi áo khoác C đang mặt có 01 túi ni lông (bọc) bên trong có chứa chất rắn màu trắng, qua giám định là ma túy. Kết luận giám định số: 18/GĐH-PC09 ngày 01/01/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Cà Mau, kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng bên trong bọc ni lông được niêm phong kín trong phong bì hình chữ nhật, ký hiệu M1/2020 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,2667 gram, loại Methamphetamine.

Từ nội dung trên xét thấy cáo trạng số: 19/CT-VKS ngày 09/3/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện T truy tố bị cáo là có căn cứ và đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo: Xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến chính sách độc quyền quản lý nhà nước về các chất ma túy. Bản thân bị cáo biết rõ ma túy là loại chất gây nghiện, nó gây ức chế cảm giác, tạo cảm giác ảo đối với hệ thần kinh của con người, đồng thời bị cáo cũng biết nhà nước nghiêm cấm mọi hành vi mua bán, vận chuyển, tàng trữ trái phéo chất ma túy dưới mọi hình thức, thế nhưng bị cáo vẫn thực hiện hành vi tàng trữ nhằm để thỏa mãn nhu cầu cho bản thân. Trước, trong và sau khi bị cáo thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có đủ năng lực và đủ độ tuổi chịu trách nhiệm, do đó bị cáo phải chịu trách nhiệm do hành vi của bị cáo gây ra.

Về tình tiết tăng năng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sư của bị cáo: Bị cáo có nhân thân tốt, thật thà khai báo, ăn năn hối cải. Do đó Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm một phần hình phạt cho bị cáo là phù hợp. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.

Từ những phân tích, đánh giá về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nêu trên. Hội đồng xét xử xét thấy các điều luật mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp với hành vi của bị cáo. Về hình phạt xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù là tương xứng với hành vi của bị cáo gây ra và cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để bị cáo an tâm cải tạo trở thành một công dân tốt cho gia đình và xã hội.

Về xử lý vật chứng: Mẫu tinh thể qua giám định có khối lượng 0,2315 gam (được niêm phong) xét thấy không có tính năng sử dụng nên cần tịch thu và tiêu hủy; các tài sản gồm 01 áo khoác màu đen, 01 điện thoại cảm ứng màu đen hiệu Vivo đã qua sử dụng, tiền Việt Nam 1.840.000 đồng xét thấy đây là tài sản của bị cáo không liên quan đến vụ án, nên trả lại cho bị cáo là phù hợp với Điều Điều 47 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát số 69F1 – 114.43 hiệu Wave Alpha do Nguyễn Tấn Đạt đứng tên hiện nay Đạt đã chết, bà Trần Mỹ Oanh là mẹ của Đạt xác định xe đó là do gia đình mua cho Đạt, trước khi Đạt chết có bán hay cho ai gia đình không biết, nay gia đình không yêu cầu đối với chiếc xe. Việc bị cáo khai là xe của Linh ở Đầm Dơi đưa cho bị cáo chạy, xét thấy hiện nay cơ quan điều tra chưa làm rõ là xe của ai, do đó giao cho cơ quan điều tra Công an huyện T tiếp tục điều tra làm rõ xử lý sau.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng theo quy định tại Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: bị cáo Huỳnh Trường C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Huỳnh Trường C 01 (một) năm tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày 30/12/2019 (ngày bắt bị cáo).

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu và tiêu hủy mẫu tinh thể qua giám định có khối lượng 0,2315 gam (được niêm phong); trả cho bị cáo Huỳnh Trường C 01 áo khoác màu đen, 01 điện thoại cảm ứng màu đen hiệu Vivo đã qua sử dụng, tiền Việt Nam 1.840.000 đồng. (Các vật chứng hiện nay Chi cục thi hành án dân sự huyện T đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 09/3/2020).

Giao cho Cơ quan điều tra Công an huyện T điều tra làm rõ chiếc xe mô tô biển kiểm soát số 69F1 – 114.43 hiệu Wave Alpha xử lý sau. (Chiếc xe hiện cơ quan điều tra đang quản lý).

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Huỳnh Trường C phải nộp án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân.

Cỡ chữ