vanban.org

Bản án 24/2020/HSST — Hình sự

TAND huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh Tuyên án 23/12/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”;

Xử phạt: Nguyễn Văn D 36 (Ba mươi sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05 (năm) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; Giao bị cáo cho UBND xã Trung Nghĩa, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự trả lại; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN D
HUYỆN TIÊN DU
TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

----------
Bản án số: 24/2020/HSST
Ngày 23/12/2020

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN D HUYỆN TIÊN DU, TỈNH BẮC NINH

Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy Hằng.

Các hội thẩm nhân D: Ông Trần Quang Lưu; Ông Nguyễn Thế Lai

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Cương, Thư ký Tòa án;

Đại diện Viện kiểm sát nhân D huyện Tiên Du tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Hòa- Kiểm sát viên;

Ngày 23/12/2020, tại Tòa án nhân D huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự sơ thẩm thụ lý số: 21/2020/TLST-HS ngày 18/11/2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2020/QĐXXST-HS ngày 09/12/2020 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn D, sinh năm 1961 ; Giới tính: Nam ; Tên gọi khác : Không ; HKTT: Thôn Yên Từ, xã Trung Nghĩa, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh ; Quốc tịch: Việt Nam; D tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 10/10 ; Nghề nghiệp: Lao động tự do ; Họ và tên bố: Nguyễn Văn T, sinh năm 1922, Đã chết; Họ và tên mẹ: Mẫn Thị N, sinh năm 1925, Đã chết; Gia đình có 06 chị em, bị cáo là thứ năm; Vợ là: Nguyễn Thị L, sinh năm 1962; Con: có 04 con, lớn nhất sinh năm 1981, nhỏ nhất sinh năm 1990.

Tiền án, tiền sự: Chưa có.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn : “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày

03/9/2020 đến nay có mặt tại phiên tòa.

Người bị hại: Chị Đỗ Thị T, sinh năm 1976; Trú tại: Thôn Giới Tế, xã Phú Lâm, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh; (đã chết)

Đại diện hợp pháp của người bị hại: Ông Nguyễn Ngọc Th, sinh năm 1963; Trú tại: Thôn Giới Tế, xã Phú Lâm, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh; (Có mặt)

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1964; Trú tại: Thôn Yên Từ, xã Trung Nghĩa, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh. (vắng mặt)

Anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1984; Trú tại: Thôn Yên Từ, xã Trung Nghĩa, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 12/5/2020, Nguyễn Văn D điều khiển xe mô tô nhãn hiệu BEST màu xanh, biển kiểm soát (BKS): 47H3-3799, chở ông Long đi đến nhà ông Nguyễn Văn Nghiệp, sinh năm 1973 có HKTT tại thôn Ân Phú, xã Phú Lâm, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh để đòi tiền công thợ xây (D chưa có giấy phép lái xe mô tô hạng A1 theo quy định). Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, D điều khiển xe mô tô trên chở ông Long đi từ nhà ông Nghiệp về thôn Yên Từ, xã Trung Nghĩa, huyện Yên Phong theo đường TL276 mới. Thời điểm này, bà Thập, bà Ngọc và chị Hoa cùng nhau đi bộ tập thể dục theo đường làng thôn Giới Tế rẽ ra đường TL276 mới hướng về thôn Yên Từ, xã Trung Nghĩa, huyện Yên Phong. Quá trình đi bộ tại đường TL276. Chị Thập, bà Ngọc và chị Hoa di chuyển theo hàng dọc sát mép đường bên phải của làn đường trong cùng (đường dành cho xe mô tô, xe thô sơ và người đi bộ). Bà Ngọc đi đầu tiên, tiếp đến là chị Hoa, chị Thập đi cuối cùng (mỗi người cách nhau khoảng 01m), vừa đi vừa nói chuyện. Lúc này, D điều khiển xe mô tô chở ông Long đi với tốc độ khoảng 40km/giờ đi bên phải đường cùng chiều với chị Thập, bà Ngọc và chị Hoa. Khi xe của D điều khiển cách cầu vượt qua sông Ngũ Huyện Khê khoảng 200m, lúc này bà Ngọc, chị Hoa và chị Thập đi bộ phía trước, cách xe của D khoảng 100m. Do trời tối, D không chú ý quan sát, không nhìn thấy bà Ngọc, chị Hoa và chị Thập đang đi bộ ở phía trước nên đã điều khiển xe mô tô đâm vào sườn bên phải người chị Thập từ phía sau, làm chị Thập bị đẩy ngã sấp về phía trước bất tỉnh. Còn xe mô tô của D bị đổ sang trái, rê trượt về phía trước 4m trên mặt đường, D bị văng theo xe. Chị Thập và D bị thương tích nặng được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Ninh. Ông Long bị thương nhẹ đã đến sơ cứu tại Trung tâm y tế huyện Yên Phong. Do thương tích nặng đến ngày 19/5/2020 chị Thập tử vong, D điều trị đến ngày 05/6/2020 thì ra viện. Ngày 17/7/2020, D tiếp tục đến Bệnh viện Việt Đức để điều trị thoát vị đĩa đệm đốt sống cổ do thương tích tại vùng cổ sau tai nạn đến ngày 24/7/2020 thì ra viện.

* Kết quả khám nghiê ̣m hiê ̣n trườ ng xảy ra tai na ̣n:

- Hiện trường vụ tai nạn giao thông xảy ra tại đường TL276 mới thuộc địa phận thôn Ân Phú, xã Phú Lâm, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. Hiện trường đã bị xáo trộn một phần do người D đưa người bị nạn đi cấp cứu. Tại đây, đường được trải nhựa phẳng rộng, là đường 2 chiều, hai bên mép đường là lề cỏ rộng 0,3m. Có cột rào hai bên đường bằng bê tông sơn màu đỏ trắng cao 0,5m. Giáp hai bên là cánh đồng. Giữa tim đường có 01 vạch dọc đường không liền mạch cách mép đường nhựa hai bên là 5,5m, hai bên đường có vạch sơn liền mạch cách mép đường tương ứng là 2m. Mép đường nhựa hai bên có rải rác cỏ mọc đất chùm lên mặt đường rộng 1m.

- Ghi nhận việc đánh số thứ tự theo số tự nhiên vị trí phương tiện: (1) Vết cày xước; (2) Vết mài trượt màu nâu; (3) Đám máu, (4) Đám cỏ đất rải rác trên mép đường nhựa.

- Quy ước phải trái tính theo chiều đi từ thị trấn Lim, huyện Tiên Du đi về huyện Yên Phong, các số đo được đo vuông góc vào mép đường bên phải. Chọn cột mốc H6/4 bên trái đường làm mốc.

- Ghi nhận các dấu vết, phương tiện, tang vật sau: Xe mô tô BKS: 47H3-3799 đổ nghiêng bên trái trên mặt đường nhựa, đầu xe quay hướng về huyện Yên Phong, đuôi xe hướng về thị trấn Lim. Trục bánh trước của xe cách mép đường bên phải 2,5m cách mốc về phía huyện Yên Phong là 27m. Trục bánh sau cách mép đường bên phải là 2,5m. Trên mặt đường nhựa có vết cày xước ký hiệu (1) diện (8,2x3)m, có dạng không liên tục, chiều hướng từ TT.Lim về huyện Yên Phong, điểm đầu vết cách mép đường bên phải là 2,6m, đuổi cuối nằm tại vị trí bàn để chân người lái bên trái của xe mô tô BKS: 47H3 – 3799. Trên mặt đường nhựa có vết mài trượt mầu nâu ký hiệu (2) diện (4x1)m, có chiều hướng từ TT.Lim về huyện Yên Phong, điểm đầu vết cách mép đường bên phải là 3,5m và cách điểm đầu của vết (1) về phía TT.Lim là 3m; Điểm cuối của vết cách mép đường nhựa là 4m và cách trục bánh sau xe mô tô 47H3-3799 là 1,8m. Trên mặt đường nhựa có đám máu ký hiệu (3) diện (0,15x0,15)m, tâm của đám máu cách mép đường bên phải là 1m và cách điểm đầu của vết cầy xước (1) là 2,2m. Mép đường hai bên rải rác có đám cỏ đất rộng 1m.

* Kết quả khám nghiệm tử thi Đỗ Thị Thập:

- Khám ngoài: Tóc đen để dài, đỉnh chẩm bên phải cách đường giữa 2cm, cách đường chân tóc gáy 5cm có diện xây xát da kích thước (7x5)cm, xung quanh có diện phù nề bầm tím diện (9x7)cm. Hai lỗ tai khô, mặt sau vành tai phải đến vùng cổ bên phải có diện bầm tím kích thước (17x11)cm. Hai mắt nhắm, quầng tím quanh mắt phải, niêm mạc nhợt nhạt, đồng tử giãn, 2 lỗ mũi có dịch màu vàng chảy ra. Phù nề toàn bộ vùng đỉnh 2 bên. Thành ngực bụng, vùng ngực, bụng không phát hiện tổn thương. Mặt ngoài 1/2 vai trên bên phải có diện xây xát da kích thước (4x3,5)cm, bề mặt đã đóng vảy. Mặt trước 1/3 giữa cánh tay phải có vết bầm tím kích thước (2x1,5)cm, vết này cách gót chân bên phải 113cm. Mặt trước ngoài 1/3 trên cẳng tay phải có vết bầm tím diện (3x2)cm, trung tâm vết này cách gót chân bên phải 98cm. Mặt sau trong 1/3 trên cẳng tay trái có vết xây xát da nằm ngang kích thước (2x0,3)cm, bề mặt khô và đóng vảy. Mu bàn tay trái có vết xây xát da kích thước (1x0,5)cm, bề mặt khô, đóng vảy. Mặt sau ngoài vai phải có diện xây xát da kích thước (6x5)cm. Vùng thắt lưng bên phải cách đường giữa cột sống 8cm và ngay trên mỏm chậu có diện xây xát da kích thước (11x10)cm, bề mặt đã khô và đóng vảy, tâm vết này cách gót chân bên phải 90cm, các vết xây xát da nằm dọc.

- Mổ tử thi: Giải phẫu vùng chẩm bên phải theo diện phù nề và xây xát da thấy da bầm dập, bong tróc, tụ máu diện đo được là (12x8)cm. Vỡ xương hộp sọ vùng chẩm bên phải nằm dọc kích thước đo được dài 06cm, qua vết vỡ có nhiều máu chảy ra.

Tại Bản kết luận giám định pháp y tử thi số: 141/KLPY-PC09 ngày 02/6/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh kết luận: Nguyên nhân chết của chị Đỗ Thị Thập là do chấn thương sọ não nặng, vỡ xương hộp sọ vùng chẩm bên phải gây suy hô hấp, suy tuần hoàn.

* Kết quả khám nghiệm phương tiện liên quan đến vụ tai nạn xe mô tô nhãn hiệu BEST, màu xanh, BKS: 47H3-3799:

- Dấu vết phương tiện: Xe không có gương chiếu hậu bên phải, gương chiếu hậu bên trái bị lỏng, xoay. Mặt nạ cách yếm hai bên, chắn bùn bánh trước còn tương đối nguyên vẹn, không có dấu vết vỡ rời. Mặt trước mặt nạ có dấu vết mất bụi dạng nhiều đường song song nằm chéo qua trái xuống dưới (5x2)cm, vân mất bụi trên diện này có dạng nhỏ, mảnh, cách nhau tương đối đều 0,1cm, vị trí dấu vết cách 7cm dưới mép trên mặt nạ, cách mép cạnh ngoài cánh yếm bên phải 20cm, cách mặt đất 80cm. Ngay sát bên phải dấu vết này mặt nạ có dấu vết mất bụi nhiều hơn so với phần còn lại kích thước (28x14)cm, vị trí dấu vết sát với mép trên, mép dưới, bên phải mặt nạ, đường mép bên trái diện dấu vết này cách mép cạnh ngoài cánh yếm phải 20cm, dấu vết này cách mặt nền đất 69cm, điểm cao nhất cách nền đất 85cm. Mặt trước ngoài cánh yếm bên phải vị trí có dán dải giấy dán màu trắng sát với mép gờ cạnh phía trước và đầu phía trước cánh yếm có diện dấu vết trượt kích thước (4x1,5)cm, chiều hướng trượt từ trước về sau, từ dưới lên trên, vị trí dấu vết cách mặt đất 69cm. Mặt ngoài cánh yếm bên phải có diện dấu vết trượt kích thước (21x1,5)cm, bề mặt dấu vết có bám dính chất màu nâu sẫm chiều hướng trượt về phía sau, xuống dưới, vị trí dấu vết cách mặt đất 49cm, điểm cao nhất cách mặt đất 67,5cm, cách mép phía trước cánh yếm 2,5cm, cách dấu vết trượt cánh yếm ở trên 4,5cm. Mặt ngoài cánh yếm bên phải cách mép sau cánh yếm 0,5cm, cách mặt đất 35cm có bám dính chất màu đen kích thước (11x1)cm, điểm cao nhất cách mặt đất 44cm. Mặt ngoài má lốp bên trái bánh trước vị trí tương ứng với dãy chữ JAPANESE STANDARA có dấu vết trượt kích thước (21x1,5)cm, chiều hướng từ mặt lăn vào mép vành. Mặt trước ngoài đầu nắm tay lái bên trái có dấu vết cày xước kích thước (1x0,5)cm. Mặt trước ốp nhựa đầu xe bên trái sát với mép ngoài đèn xi nhan trái có dấu vết mài mòn, trầy xước nham nhở kích thước (1,5x2)cm, chiều hướng từ phải sang trái. Mặt ngoài đầu bàn để chân bên trái có dấu vết mài mòn đầu khung kim loại, rách nham nhở vỏ bọc cao su kích thước (4x3)cm. Mặt ngoài sườn xe bên trái ngay sát phía trước lỗ khóa yên xe có dấu vết trầy xước kích thước (16x3)cm, chiều hướng từ trước về sau. Mặt ngoài đầu bàn để chân trái người ngồi sau có diện trầy xước kích thước (1x0,5)cm.

- Kỹ thuật an toàn phương tiện: Xe hoạt động bình thường, hệ thống phanh còi đèn hoạt động bình thường.

Tại Bản kết luận giám định số: 80/GĐDV-PC09 ngày 07/6/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh kết luận (BL 64):

+ Các dấu vết trên xe mô tô BKS: 47H3-3799: Dấu vết mài mòn, trầy xước nham nhở kích thước (2x1,5)cm tại mặt trước ốp nhựa đầu xe bên trái, sát mép ngoài đèn xi nhan trái; dấu vết mài mòn đầu khung kim loại, rách nham nhở vỏ bọc cao su kích thước (4x3)cm tại mặt ngoài đầu bàn để chân bên trái vị trí người lái; dấu vết trầy xước kích thước (16x3)cm tại mặt ngoài sườn xe bên trái hình thành do va chạm mài trượt với vật tày dạng phẳng, cứng. Chiều hướng va chạm từ trước về sau.

+ Dấu vết trượt kích thước (21x1,5)cm tại mặt ngoài má lốp bên trái bánh trước hình thành do va chạm có chuyển động về trước của xe mô tô và chuyển động xoay theo chiều tiến của bánh xe với bề mặt vật tày dạng phẳng. Chiều hướng va chạm từ mặt lăn lốp vào mép vành và ngược chiều chuyển động tiến của bánh xe.

+ Dấu vết mất bụi kích thước (5x2)cm tại mặt trước mặt nạ, cách 7cm dưới mép trên mặt nạ, cách mép cạnh ngoài cánh yếm bên phải 20cm, cách mặt đất 80cm hình thành do va chạm với vật tày có độ đàn hồi, bề mặt dạng vân vải, sợi. Chiều hướng va chạm từ trước về sau.

Tại Bản kết luận giám định số 354/KLGĐ/PC09 ngày 22/5/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh kết luận: Trong mẫu máu thu của ông Nguyễn Văn D không tìm thấy thành phần của Ethanol (cồn).

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội cuả mình như cáo trạng đã nêu là đúng. Bị cáo cũng không có ý kiến gì về kết luận giám định.

Đại diện người bị hại xác định đã giải quyết xong mọi vấn đề về trách nhiệm D sự với gia đình bị cáo. Đại diện người bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đều không yêu cầu giải quyết vấn đề gì khác đối với bị cáo;

Bản cáo trạng số 117/CT-VKS, ngày 18/11/2020 của Viện kiểm sát nhân D huyện Tiên Du truy tố Nguyễn Văn D về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a, khoản 2 điều 260 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân D huyện Tiên Du giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị HĐXX tuyên bố Nguyễn Văn D phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”

Đề nghị HĐXX áp dụng điểm a, khoản 2, Điều 260; điểm b, s Khoản 1, Khoản 2, Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự; Xử phạt: Nguyễn Văn D 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo; thời hạn thử thách là 60 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm;

Giao bị cáo cho UBND xã Trung Nghĩa, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

Về vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS trả lại cho bị cáo 01 xe mô tô nhãn hiệu BEST Biển kiểm soát 47H3-3799 có đặc điểm như mô tả tại biên bản bàn giao vật chứng ngày 18/11/2020 tại Chi cục Thi hành án D sự huyện Tiên Du;

Bị cáo nhận tội không tham gia tranh luận đối với đại diện Viện kiểm sát mà chỉ đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được cải tạo tại địa phương;

Đại diện người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không tham gia tranh luận; Đại diện người bị hại đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và không yêu cầu giải quyết bất kỳ vấn đề nào khác;

NHẬN ĐỊNH CUẢ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Nguyễn Văn D không có giấy phép lái xe mô tô hạng A1 theo quy định của pháp luật. Khoảng 20 giờ ngày 12/5/2020, D điều khiển xe mô tô nhãn hiệu BEST màu xanh, BKS: 47H3 – 3799 chở ông Nguyễn Văn Long ngồi sau đi từ thôn Ân Phú, xã Phú Lâm, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh ra đường TL276 mới để về huyện Yên Phong. Khi D điều khiển xe đi đến gần cầu vượt qua sông Ngũ Huyện Khê thuộc địa phận thôn Ân Phú, xã Phú Lâm, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh do không chú ý quan sát, không phát hiện thấy chị Đỗ Thị Thập đang đi bộ phía trước ở lề đường bên phải theo chiều đi của D nên xe mô tô do D điều khiển đã đâm vào sườn bên phải người chị Thập làm chị Thập ngã sấp văng về phía trước. Hậu quả, chị Thập bị thương nặng được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Ninh, đến ngày 19/5/2020 thì tử vong.

Hành vi nêu trên của Nguyễn Văn D đã vi phạm Khoản 9, Khoản 23 Điều 8 Luật giao thông đường bộ, đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm akhoản 2 điều 260 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân D huyện Tiên Du đã truy tố bị cáo với tội danh và điều luật viện dẫn ở trên là hoàn toàn phù hợp, có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật;

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự an toàn công cộng, xâm phạm đến tính mạng, tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, dư luận xã hội đòi hỏi phải xử lý nghiêm để cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung.

Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cuả bị cáo thì thấy;

Tình tiết tăng nặng: Không có;

Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo. Bị cáo đã tác động gia đình bồi thường toàn bộ thiệt hại cho gia đình người bị hại. Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa đại diện gia đình người bị hại có ý kiến đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Xét thấy, đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;

Từ những phân tích trên xét cần có hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo tuy nhiên xét thấy không cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo cải tạo tại địa phương cũng đủ giáo dục đối với bị cáo;

Về trách nhiệm D sự:

Quá trình điều tra, Nguyễn Văn D đã tác động gia đình bồi thường cho gia đình nạn nhân Đỗ Thị Thập tổng số tiền là 170.000.000 đồng. Ông Nguyễn Ngọc Thực là người đại diện theo ủy quyền của gia đình nạn nhân đã nhận đủ số tiền trên , không có yêu cầu bồi thường gì thêm về D sự nên không đề cập giải quyết;

Anh Nguyễn Văn Dũng (con bị cáo) xác định khi bị cáo nhờ anh xử lý hậu quả của vụ việc, anh tự nguyện bồi thường thay bị cáo về trách nhiệm D sự đối với người bị hại và không yêu cầu bị cáo hoàn trả số tiền này nên không đề cập giải quyết;

Đối với thương tích của ông Nguyễn Văn Long là người ngồi sau xe mô tô do D điều khiển. Quá trình điều tra xác định ông Long chỉ bị xây xát ngoài da, không ảnh hưởng đến sức khỏe nên ông Long không đề nghị giám định thương tích. Đồng thời ông Long không có đề nghị gì về trách nhiệm D sự nên không đề cập giải quyết.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu BEST màu xanh, BKS: 47H3 - 3799, quá trình điều tra xác định đây là chiếc xe mô tô của Nguyễn Văn D. Bị cáo đề nghị xin lại chiếc xe. Xét thấy, chiếc xe là tài sản hợp pháp của bị cáo; bị cáo đã thực hiện đầy đủ về trách nhiệm D sự nên xét cần trả lại xe cho bị cáo là phù hợp;

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí HSST theo quy định cuả pháp luật;

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”;

Áp dụng Điểm a, Khoản 2, Điều 260; Điều 65; Điểm b, s, Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của UBTV Quốc Hội;

Xử phạt: Nguyễn Văn D 36 (Ba mươi sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05 (năm) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm;

Giao bị cáo cho UBND xã Trung Nghĩa, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo theo quy định của khoản 5 điều 65 BLHS.

Bị cáo được hưởng án treo trong thời gian thử thách nếu thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự trả lại bị cáo chiếc xe máy nhãn hiệu BEST Biển kiểm soát 47H3-3799 có đặc điểm như mô tả tại biên bản bàn giao vật chứng ngày 18/11/2020 tại Chi cục Thi hành án D sự huyện Tiên Du;

Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí HSST.

Bị cáo, đại diện hợp pháp của người bị hại, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm;

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được kết quả bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật;

Cỡ chữ