vanban.org

Bản án 24/2020/HSST — Hình sự

TAND huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình Tuyên án 29/04/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn S phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".

Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 50 và Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 24/12/2019. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn S - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn S phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
  • Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THÁ I THỤY
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2020/HS-ST
Ngày 29-4-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁ I THỤY, TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thái Hà.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Đức Dương

2. Bà Phạm Hồng Thiêm.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Tiến Thành - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyê ̣n Thá i Thụy, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 4 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vu ̣ án hinh s ự thụ lý số : 22/2020/TLST-HS

̀

ngày 01 tháng 4 năm 2020, theo Quyết định đưa vu ̣ án ra xét x

ử số: 25/2020/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 4 năm 2020, đối với:

Bị cáo Nguyễn Văn S, sinh năm 1974 tại huyện T T, tỉnh Thái Bình.

Nơi cư trú: Thôn S, xã H A, huyện T T, tỉnh Thái Bình. Nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; họ và tên bố: không rõ, con bà Nguyễn Thị Th (đã chết); có vợ là Nguyễn Thị V, sinh năm 1981 và hai con, con lớn sinh năm 2002, con nhỏ sinh năm 2005.Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: Quyết định số 1009/QĐ-CTUBND ngày 31/01/2006 bị Chủ tịch UBND tỉnh Thái Bình áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục thời hạn 24 tháng tại Trung tâm giáo dục, lao động xã hội số IV, huyện Ba Vì, Hà Nội; Quyết định số 256/QĐ-UB ngày 09/12/2008 bị UBND huyện T T áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh thời hạn 12 tháng tại Trung tâm giáo dục, lao động, xã hội thành phố Thái Bình. Tại Quyết định số 862/QĐ-CTUBND ngày 17/5/2011 bị Chủ tịch UBND tỉnh Thái Bình áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục thời hạn 24 tháng tại Cơ sở giáo dục Thanh Hà, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc; Quyết định số 480/QĐ-XPVPHC ngày 17/4/2017 bị Chủ tịch UBND huyện T T xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi Đánh bạc. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 24/12/2019, đến ngày 27/12/2019 chuyển tạm giam đến nay. (có mặt)

- Ngườ i chứ ng kiến:

+ Anh Nguyễn Tuấn Trung, sinh năm 1984; Trú tại thôn Văn Hàn Đông, xã Thái Hưng, huyện T T, tỉnh Thái Bình. (vắng mặt)

+ Ông Vũ Khắc Hoan, sinh năm 1964; Trú tại thôn Văn Hàn Tây, xã Thái Hưng, huyện T T, tỉnh Thái Bình. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liê ̣u có trong hồ sơ và diễn biến ta ̣i phiên tòa , nô ̣i dung vu ̣ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ 45 phút ngày 24/12/2019, Nguyễn Văn S thuê xe ôm của một người đàn ông không biết tên, tuổi, địa chỉ từ xã Thái Hòa đến khu vực cầu Cau, đoạn giáp ranh giữa xã Thái Hưng và xã Thái Hồng, huyện T T, tỉnh Thái Bình, mục đích đi mua ma túy (Heroine) về sử dụng cho bản thân. Tại đây, S gặp và mua của một người phụ nữ khoảng 40 tuổi, không biết tên, tuổi, địa chỉ 02 gói ma túy, loại Heroine với giá 200.000 đồng. S cất vào túi áo bên phải, phía trước đang mặc và đi bộ về phía xã Thái Hưng để tìm thuê xe ôm đi về nhà. Đến khoảng 12 giờ 45 phút, S đi đến đoạn đường thuộc thôn Văn Hàn Tây, xã Thái Hưng, huyện T T, tỉnh Thái Bình thì bị tổ công tác Công an huyện T T phát hiện bắt quả tang. Trước sự chứng kiến của anh Nguyễn Tuấn Trung và ông Vũ Khắc Hoan, tổ công tác đã thu giữ trên người S 02 gói được gói bằng giấy một mặt màu trắng, một mặt in hình nhiều màu sắc, bên trong có chứa chất bột màu trắng dạng cục (niêm phong mẫu số A1). Tổ công tác đưa S và mời những người chứng kiến về trụ sở UBND xã Thái Hưng lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Cùng ngày khám xét khẩn cấp nơi ở của S không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.

Tại bản Kết luận giám định số 498/KLGĐ-PC09 ngày 25/12/2019, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận: “Vật chứng trong phong bì niêm phong mẫu A1 là ma túy, loại Heroine, khối lượng 0,2958 gam”. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về Kết luận giám định này.

Cáo trạng số 29 ngày 01/4/2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thu ̣y đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trong bản Cáo trạng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T T vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật hình sự, tuyên bố bị cáo S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, xử phạt bị cáo từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 09 tháng tù, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Ngoài ra, còn đề nghị về việc xử lý vật chứng và án phí.

Bị cáo không tranh luận đối với quan điểm luận tội của Viện kiểm sát. Bị cáo nói lờ i sau cùng đề nghị Hô ̣i đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về quyết định tố tụng, hành vi tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn S đa ̃ khai nhâ ̣n toàn bô ̣ hành vi pha ̣m tô ̣i của minh như nô ̣i dung bản Cáo trạng đã truy

̀

tố. Hành vi phạm tội của bị cáo còn được chứng minh bằng các chứng cứ sau: Biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang; Biên bản niêm phong vật chứng do Công an huyện T T lập ngày 24/12/2019 (bút lục số 49 - 51); lời khai của những người chứng kiến là ông Nguyễn Trung Tuấn và ông Vũ Khắc Hoan (bút lục số 79

- 86); Bản kết luận giám định số 498/KLGĐ-PC09 ngày 25/12/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Thái Bình (bút lục số 58). Xét thấy, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, phù hợp với các chứng cứ nêu trên. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận: Ngày 24/12/2019, bị cáo Nguyễn Văn S có hành vi tàng trữ trái phép 0,2958 gam ma túy, loại Heroine để sử dụng cho bản thân thì bị Công an huyện T T phát hiện bắt quả tang. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận bị cáo Nguyễn Văn S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát nhân dân huyện T T đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Điều 249.Tội tàng trữ trái phép chất ma túy - Bộ luật hình sự quy định:

"1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam."

Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội của bị cáo thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Văn S là nghiêm trọng, gây nguy hại lớn cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm đến an ninh, trật tự công cộng và an toàn xã hội, là nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác. Bị cáo có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở chữa bệnh vì nghiện ma túy, nhưng bị cáo cũng không chịu tu dưỡng bản thân, nay lại phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy thể hiện ý thức coi thường pháp luật của bị cáo.

Xét các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử thấy cần phải xử phạt nghiên khắc, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo, có như vậy mới có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo nói riêng cũng như răn đe, đấu tranh và phòng ngừa tội phạm nói chung. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo vì bị cáo tàng trữ ma túy để sử dụng cho bản thân, trước khi bị bắt làm nghề lao động tự do, thu nhập không ổn định và không có tài sản riêng.

Về xử lý vật chứng: Số ma tú y thu giữ của bị cáo thuô ̣c loa ̣i Nhà nướ c cấm lưu hành nên cần ti ̣ch thu tiêu hủy.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn S phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".

2. Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 50 và Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 24/12/2019.

3. Về xử lý vâ ̣t chứ ng : Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bô ̣ luâ ̣t Tố tụng hình sự;

Tịch thu tiêu huỷ 0,2903 gam ma túy, loại Heroine thu giữ của bị cáo Nguyễn Văn S hoàn lại sau giám định trong phong bì niêm phong số 498/KLGĐ-PC09.

(Vật chứng trên đã chuyển Chi cục Thi hành án Dân sự huyện T T, tỉnh Thái Bình theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 01/4/2020).

4. Về án phí: Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Văn S phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Văn S có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 29/4/2020./.

̀

̉ Nơi nhận:

Cỡ chữ