vanban.org

Bản án 24/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ Tuyên án 18/06/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu: của bị cáo Lê Duy H 01 bì niêm phong số 54/KLGĐ ngày 27/12/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Thọ được đánh số bì số 01 bên trong chứa: 0,126gam chất bột, cục màu trắng, 01 … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án hình sự đối với bị cáo Lê Duy H - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015…"
  • Tòa quyết gì? Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
  • Căn cứ chính? Điều 55 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ PHÚ THỌ
TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2020/HS-ST
Ngày 18-6-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ THỌ - TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thu Hiền

Các Hội thẩm nhân dân:

1.Bà Phạm Thị Ngọc Lan

2.Bà Trần Thị Mai Dung

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Xuân - Thẩm tra viên chính Tòa án nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Hà Thị Thu Hà - Kiểm sát viên thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa.

Ngày 18 tháng 6 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 21/2020/TLST-HS ngày 17 tháng 4 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2020/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 6 năm 2020 đối với bị cáo:

Lê Duy H - sinh ngày 15 tháng 10 năm 1986 tại huyện T, tỉnh Phú Thọ; Nơi ĐKNKTT và chỗ ở hiện nay: Khu D 3 (cũ là khu 4), xã D, huyện T, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Quang D (đã chết) và bà Hán Thị P - sinh năm 1963; bị cáo có vợ là Nguyễn Thị Viên - sinh năm 1991 và 01 con sinh năm 2019; tiền sự: Không; tiền án: Không; nhân thân: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 23/12/2019 đến ngày 01/01/2020 được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện đang tại ngoại tại xã D, huyện T, tỉnh Phú Thọ. (Có mặt).

+Người có Q lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Thanh Q - sinh năm 1990

Trú tại: Khu 10, xã P, thị xã P, tỉnh Phú Thọ. (Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

+Người chứng kiến: Ông Nguyễn Kim P - sinh năm 1955

Trú tại: Khu dân cư T (cũ là phố D), phường H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 09 giờ 15 phút, ngày 23/12/2019, tại khu vực bãi đất trống đối diện trường cấp III Trường Thịnh thuộc Khu 3, phường T (nay là khu T, phường H), thị xã P, tỉnh Phú Thọ tổ công tác của đội điều tra tội phạm về kinh tế ma túy - Công an thị xã Phú Thọ phát hiện 02 nam thanh niên sử dụng trái phép chất ma túy là: Lê Duy H và Nguyễn Thanh Q. Tổ công tác đã tiến hành kiểm tra đối với H và Q. Quá trình kiểm tra tổ công tác thu giữ của H: 01 xi lanh nhựa màu trắng loại 3ml bên trong có bám dính dung dịch màu hồng, 01 gói giấy có mặt ngoài màu vàng mở ra bên trong màu trắng, bên trong gói giấy có chứa chất bột cục màu trắng được cất giấu trong người H; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, viền trắng gắn thẻ sim 0982.290.269 và tiền mặt 180.000 đồng. Tổ công tác tiếp tục kiểm tra thu giữ của Nguyễn Thanh Q: 01 xi lanh nhựa màu trắng loại 3ml bên trong có bám dính dung dịch màu hồng; 01 mảnh giấy mặt ngoài màu vàng mặt trong màu trắng; 01 vỏ ống Novocain đã qua sử dụng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu tím đã qua sử dụng gắn thẻ sim 0869.171.711. Tổ công tác đã mời người chứng kiến sau đó cho 01 xi lanh nhựa và 01 gói giấy chứa chất bột cục màu trắng thu giữ của H vào 01 bì giấy đánh số 01; cho 01 xi lanh nhựa thu giữ của Q vào 01 bì giấy đánh số 02 rồi yêu cầu H, Q, người chứng kiến và các thành phần liên quan ký tên vào 02 bì giấy này. Sau đó tổ công tác đưa H và Q cùng toàn bộ tang vật thu giữ được về trụ sở Công an phường T lập biên bản kiểm tra và niêm phong vật chứng theo quy định của pháp luật.

Ngay sau đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thị xã Phú Thọ đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lê Duy H, quá trình khám xét không thu giữ gì.

Cũng trong ngày 23/12/2019, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định trưng cầu giám định đối với chất bột, cục màu trắng đựng trong 01 gói giấy có mặt ngoài màu vàng mặt trong màu trắng thu giữ của Lê Duy H và chất dịch màu hồng bám dính trong 02 xi lanh nhựa thu giữ của H và Nguyễn Thanh Q.

Tại bản Kết luận giám định số 54/KLGĐ ngày 27/12/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Phú Thọ kết luận:

“Chất bột, cục màu trắng chứa trong 01 gói giấy có mặt ngoài màu vàng, mặt trong màu trắng, được niêm phong trong Bì số 01 (Bì ghi vật chứng thu giữ của Lê Duy H) gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng là 0,183 gam, loại Heroine.

- Trong dung dịch màu hồng bám dính trong 01 xilanh nhựa màu trắng, loại 03ml/cc được niêm phong trong Bì số 01 (Bì ghi vật chứng thu giữ của Lê Duy H) gửi đến giám định có tìm thấy chất ma túy Heroine.

- Trong dung dịch màu hồng bám dính trong 01 xilanh nhựa màu trắng, loại 03ml/cc được niêm phong trong Bì số 02 (Bì ghi vật chứng thu giữ của Nguyễn Thanh Q) gửi đến giám định có tìm thấy chất ma túy Heroine.

Heroine là chất ma túy nằm trong Danh mục I, số thứ tự 09, Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ.

Hoàn lại đối tượng giám định: Trả lại: 0,126gam chất bột, cục màu trắng và 01 xi lanh nhựa màu trắng loại 03ml/cc cùng toàn bộ bao gói trong Bì số 01 và 01 xi lanh nhựa màu trắng loại 03ml/cc cùng toàn bộ bao gói trong Bì số 02 gửi đến giám định được dán kín, niêm phong lần lượt 02 bì giấy đánh số 01, 02 bên ngoài được đóng 05 hình dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Thọ và chữ ký của các thành phần liên quan tại các mép dán”.

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Phú Thọ đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can Lê Duy H về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 điều 251 Bộ luật hình sự và tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại Cơ quan điều tra Nguyễn Thanh Q và Lê Duy H đều khai nhận như sau: Sáng ngày 23/12/2019 Q dùng điện thoại của mình có số thuê bao 0869.171.711 gọi đến số 0982.290.269 của H hỏi mua 200.000 đồng tiền ma túy. Do có sẵn ma túy trong người nên H đồng ý bán ma túy cho Q và hẹn giao dịch ở khu vực gần cổng trưởng cấp III Trường Thịnh. Khi gặp nhau, Q đưa cho H 180.000 đồng và nói với H: em chỉ còn có thế anh để cho em. Hiểu ý Q chỉ còn 180.000 đồng nên H đồng ý cầm tiền và đưa lại cho Q 01 gói ma túy H chuẩn bị từ trước có đặc điểm mặt ngoài màu vàng, mặt trong màu trắng bên trong có chứa chất chất bột, cục màu trắng. Q nhận gói ma túy và rủ H cùng sử dụng số ma túy trên. Lúc này H đồng ý và đi cùng Q đến khu vực bãi đất trống đối diện trường cấp III Trường Thịnh để sử dụng ma túy. Tại đây, Q lấy ra 01 ống Novocain, 02 xi lanh nhựa đã chuẩn bị từ trước để pha chế số ma túy mua được của H. Sau khi pha chế xong, cả hai đã cùng nhau sử dụng hết số ma túy trên. Khi vừa sử dụng xong thì H và Q bị Công an thị xã Phú Thọ bắt giữ như đã nêu trên. Đối với 01 gói ma túy H cất giữ trên người với mục đích để sử dụng cho bản thân.

Về nguồn gốc số ma túy bán cho Q và cất giữ để sử dụng cho bản thân, H khai nhận mua của một người đàn ông không quen biết vào sáng ngày 23/12/2019 tại khu vực chợ mè thị xã P với giá 400.000 đồng được 02 gói ma túy có đặc điểm mặt ngoài màu vàng với mục đích ban đầu là để sử dụng cho bản thân. Đến khi Q gọi điện hỏi mua do có sẵn ma túy nên H đã bán cho Q 01 gói với giá 180.000 đồng và cất giữ 01 gói để sử dụng cho bản thân.

Tại phiên tòa, bị cáo Lê Duy H khai nhận: Bị cáo và Q là bạn bè xã hội, cùng là người nghiện ma túy, không có mâu thuẫn gì. Bị cáo thừa nhận nội dung bản cáo trạng truy tố bị cáo là đúng. Nguồn gốc số ma túy bán cho Q và số ma túy bị cáo cất để sử dụng cho bản thân là bị cáo mua của người đàn ông ở chợ mè, thị xã P vào sáng ngày 23/12/2019 nhưng bị cáo không biết tên, địa chỉ và cũng không có tài liệu chứng cứ chứng minh việc mua bán này và không ai biết việc mua bán đó. Bị cáo bị thu giữ: 01 xi lanh nhựa màu trắng loại 3ml bên trong có bám dính dung dịch màu hồng là xi lanh bị cáo vừa sử dụng ma túy, 01 gói giấy có mặt ngoài màu vàng mở ra bên trong màu trắng, bên trong gói giấy có chứa chất bột, cục màu trắng được cất giấu trong người bị cáo là ma túy heroin bị cáo cất để sử dụng cho bản thân; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, viền trắng đã qua sử dụng gắn thẻ sim 0982.290.269 là điện thoại dùng liên lạc cá nhân và trao đổi mua bán ma túy với Q vào ngày 23/12/2019; số tiền 180.000 đồng là tiền vừa bán ma túy cho Q. Bị cáo lao động tự do, thu nhập thấp, không có tài sản gì có giá trị.

Bản cáo trạng số 26/CT-VKSTXPT ngày 17/4/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Thọ truy tố bị can Lê Duy H về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 điều 251 của Bộ luật hình sự và tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Thọ giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố không có lời tranh luận và bào chữa nào khác. Đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: Bị cáo Lê Duy H phạm các tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng khoản 1 điều 251; điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 điều 51; khoản 1 điều 55; khoản 1 điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo từ 30 tháng đến 36 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và từ 18 tháng đến 24 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của bản án là từ 48 tháng đến 60 tháng tù về các tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Mua bán trái phép chất ma túy” được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 23/12/2019 đến ngày 01/01/2020. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

-Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu: của bị cáo Lê Duy H 01 bì niêm phong số 54/KLGĐ ngày 27/12/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Thọ được đánh số bì số 01 bên trong chứa: 0,126gam chất bột, cục màu trắng, 01 xi lanh nhựa màu trắng loại 03ml/cc cùng toàn bộ bao gói và 01 thẻ sim số 0982.290.269; của anh Nguyễn Thanh Q 01 bì niêm phong số 54/KLGĐ ngày 27/12/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Thọ được đánh số bì số 02 bên trong chứa: 01 xi lanh nhựa màu trắng loại 03ml/cc cùng toàn bộ bao gói; 01 mảnh giấy mặt ngoài màu vàng mặt trong màu trắng; 01 vỏ ống Novocain đã qua sử dụng và 01 thẻ sim số 0869.171.711 để tiêu hủy;

Tịch thu: của bị cáo Lê Duy H 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen viền trắng đã qua sử dụng; của anh Nguyễn Thanh Q 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu tím đã qua sử dụng để bán nộp ngân sách nhà nước;

Tịch thu của bị cáo Lê Duy H số tiền 180.000đ (Một trăm tám mươi nghìn đồng) để nộp ngân sách nhà nước.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo ân hận về hành vi mà bị cáo đã phạm, mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng:

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Phú Thọ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Thọ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

.Đánh giá các chứng cứ buộc tội đối với bị cáo:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Lê Duy H đã khai nhận: Hồi 09 giờ 30 phút sáng ngày 23/12/2019, tại khu vực bãi đất trống trước cổng trường cấp III Trường Thịnh, thuộc khu 3, phường T (nay khu T, phường H), thị xã P, tỉnh Phú Thọ, bị cáo Lê Duy H đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 0,183gam Heroine để sử dụng cho bản thân. Trước đó, cũng trong buổi sáng ngày 23/12/2019 tại cổng trường cấp III Trường Thịnh, thuộc khu 3, phường T (nay khu T, phường H), thị xã P, tỉnh Phú Thọ, bị cáo Lê Duy H đã bán trái phép 01 gói ma túy với giá 180.000 đồng cho Nguyễn Thanh Q như đã nêu trên. Lời nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến, phù hợp với thời gian, địa điểm xảy ra vụ án, kết luận trưng cầu giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy, có đủ căn cứ pháp lý kết luận: Bị cáo Lê Duy H phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 điều 251 của Bộ luật hình sự và tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 của Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Thọ truy tố bị cáo về tội danh cũng như điều luật là hoàn toàn đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Trong vụ án này, đối với Nguyễn Thanh Q là người mua ma túy của H trong ngày 23/12/2019. Kết quả điều tra xác định Q cũng đã sử dụng hết số ma túy mua của H. Công an thị xã Phú Thọ đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Q về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, mức phạt 500.000 đồng là phù hợp.

Đối với người đàn ông bán trái phép chất ma túy cho H, Cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra, xác minh nH do H không biết tên, địa chỉ cụ thể của người này nên không xác định được. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thị xã Phú Thọ không đề cập xử lý là phù hợp.

Tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự quy định: ” Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:…”

Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định: “Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

…c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;…”

.Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước được pháp luật hình sự bảo vệ nên cần phải được xử lý nghiêm. Trước lần phạm tội này, bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, lẽ ra bị cáo phải tu dưỡng rèn luyện bản thân, nhưng bị cáo không chịu lao động, làm ăn lương thiện mà lao vào con đường nghiện ma túy dẫn đến có hành vi phạm tội. Vì vậy, bị cáo phải chịu hình phạt tương xứng với hành vi đã gây ra, cần áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có đủ điều kiện giáo dục bị cáo trở thành người tốt, có ích cho xã hội. Song khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo. Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự và không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Do vậy, đối với bị cáo cần áp dụng điều 55 của Bộ luật hình sự để tổng hợp hình phạt chung của bản án. Xét tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội cũng như nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: chỉ cần áp dụng hình phạt đối với bị cáo như Viện kiểm sát nhân dân thị xã đề nghị là phù hợp. Mức án đó cũng đủ điều kiện để giáo dục bị cáo sửa chữa được tội lỗi mà bị cáo đã phạm.

.Về hình phạt bổ sung:

Tại khoản 5 điều 249 và khoản 5 điều 251 của Bộ luật hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Xét thấy, bị cáo không có tài sản, thu nhập thấp nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp quy định của pháp luật.

.Về vật chứng và tài sản, đồ vật tạm giữ:

Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Phú Thọ thu giữ và chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Phú Thọ gồm:

Tạm giữ của bị cáo Lê Duy H: 01 bì niêm phong số 54/KLGĐ ngày 27/12/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Thọ được đánh số bì số 01 là vật nhà nước cấm lưu hành và đồ vật dùng sử dụng ma túy không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy. Còn 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, viền trắng đã qua sử dụng gắn thẻ sim 0982.290.269 là điện thoại dùng liên lạc mua bán ma túy nên cần tịch thu điện thoại để bán nộp ngân sách nhà còn chiếc thẻ sim tịch thu để tiêu hủy; Số tiền 180.000 đồng là tiền trao đổi mua bán túy trái phép nên cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước;

Tạm giữ của anh Nguyễn Thanh Q: 01 bì niêm phong số 54/KLGĐ ngày 27/12/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Thọ được đánh số bì số 02; 01 mảnh giấy mặt ngoài màu vàng mặt trong màu trắng; 01 vỏ ống Novocain đã qua sử dụng là vật dùng để sử dụng trái phép ma túy nên tịch thu để tiêu hủy và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu tím đã qua sử dụng gắn thẻ sim 0869.171.711 là điện thoại dùng trao đổi mua bán trái phép ma túy nên cần tịch thu điện thoại bán nộp ngân sách nhà nước và thẻ sim tịch thu để tiêu hủy.

.Về án phí: Bị cáo Lê Duy H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 điều 251; điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 điều 51; khoản 1 điều 55; khoản 1 điều 38 của Bộ luật hình sự. Tuyên bố: Bị cáo Lê Duy H phạm các tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; phạt Lê Duy H 30 (Ba mươi) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và 18 (Mười tám) tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của bản án là 48 (Bốn mươi tám) tháng tù về các tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Mua bán trái phép chất ma túy” được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 23/12/2019 đến ngày 01/01/2020 là 09 (Chín) ngày. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

-Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu: của bị cáo Lê Duy H 01 bì niêm phong số 54/KLGĐ ngày 27/12/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Thọ được đánh số bì số 01 bên trong chứa: 0,126gam chất bột, cục màu trắng, 01 xi lanh nhựa màu trắng loại 03ml/cc cùng toàn bộ bao gói và 01 thẻ sim số 0982.290.269; của anh Nguyễn Thanh Q 01 bì niêm phong số 54/KLGĐ ngày 27/12/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Thọ được đánh số bì số 02 bên trong chứa: 01 xi lanh nhựa màu trắng loại 03ml/cc cùng toàn bộ bao gói; 01 mảnh giấy mặt ngoài màu vàng mặt trong màu trắng; 01 vỏ ống Novocain đã qua sử dụng và 01 thẻ sim số 0869.171.711 để tiêu hủy;

Tịch thu: của bị cáo Lê Duy H 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen viền trắng đã qua sử dụng; của anh Nguyễn Thanh Q 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu tím đã qua sử dụng để bán nộp ngân sách nhà nước;

Tịch thu của bị cáo Lê Duy H số tiền 180.000đ (Một trăm tám mươi nghìn đồng) để nộp ngân sách nhà nước.

(Theo biên bản giao, nhận vật chứng đến Chi cục thi hành án dân sự thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ ngày 17/4/2020).

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Lê Duy H phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có mặt có quyền kháng cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày giao hoặc niêm yết bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ -VKSND thị xã, tỉnh;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA -Công an thị xã; -Sở tư pháp; -Bị cáo; Người CQLNVLQ; -THAHS, THADS; -Lưu hồ sơ;

- Lưu văn phòng.

Hà Thu Hiền

Cỡ chữ