vanban.org

Bản án 24/2020/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Lào Cai Tuyên án 29/05/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Giàng Seo M và Sùng Thị D phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt bị cáo Giàng Seo M tù Chung thân. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 13/02/2020. Phạt bị cáo 5.000.000 đồng nộp ngân sách nhà nước. Xử phạt bị cáo Sùng Thị D 20 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 13/02/2020. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Giàng Seo M, Sùng Thị D - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Giàng Seo M và Sùng Thị D phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
Tỉnh Lào Cai

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:24/2020/HSST
Ngày 29/5/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Minh Quán.

Thẩm phán: Ông Phạm Ngọc Toàn.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Lập; ông Nguyễn Hữu Cương và bà Nguyễn Thị Kim.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Trần Thu Hương - Cán bộ Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Huỳnh - Kiểm sát viên.

Ngày 29/5/2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 17/2020/TLST - HS ngày 15/4/2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2020/QĐXXST- HS ngày 14 tháng 5 năm 2020 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Giàng Seo M (tên gọi khác: Không) - Giới tính: Nam;

Sinh ngày 01 tháng 01 năm 1989 tại: huyện H, tỉnh Lào Cai;

Nơi cư trú: Thôn T, xã S, huyện V, tỉnh Lào Cai;

Dân tộc: Mông ; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không;

Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hóa: Không;

Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không;

Con ông Giàng Seo Th và con bà Ma Thị C;

Gia đình bị cáo có 05 anh em, bị cáo là con thứ nhất.

Vợ Sùng Thị D (Bị cáo trong vụ án); Bị cáo có 06 con, con lớn sinh năm 2008, con nhỏ sinh năm 2015.

Bị tạm giữ từ ngày 13/02/2020; hiện tạm giam tại Trại tạm giam - Lào Cai. (Có mặt).

2. Họ và tên: Sùng Thị D (tên gọi khác: Không) - Giới tính: Nữ;

Sinh ngày 01 tháng 01 năm 1985 tại: Huyện Y, tỉnh Yên Bái;

Nơi cư trú: Thôn T, xã S, huyện V, tỉnh Lào Cai

Dân tộc: Mông; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không;

Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hóa: Không;

Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không;

Con ông Sùng A P và con bà Cứ Thị Ch.

Gia đình bị can có 04 chị em, bị can là con thứ nhất.

Chồng: Giàng Seo M (Bị cáo trong vụ án). Bị cáo có 06 con, con lớn sinh năm 2008, con nhỏ sinh năm 2015.

Bị tạm giữ từ ngày 13/02/2020, hiện tạm giam tại Trại tạm giam - Lào Cai. (Có mặt).

* Người bào chữa cho bị cáo Giàng Seo M: Bà Trần Thị C1 – Trợ giúp viên, Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Lào Cai. (Có mặt).

* Người bào chữa cho bị cáo Sùng Thị D: Bà Nguyễn Thị Mai H1 – Trợ giúp viên, Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Lào Cai. (Có mặt).

* Người phiên dịch: Bà Sùng Thị Q - Trú tại xã P1, huyện X, tỉnh Lào Cai.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 13 giờ 40 phút ngày 13/02/2020, tổ công tác Công an huyện V làm nhiệm vụ tại khu vực đường Q1, thôn N, xã Kh, huyện V phát hiện bắt quả tang Giàng Seo M và vợ là Sùng Thị D có hành vi tàng trữ, vận chuyển trái phép chất ma túy. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang. Thu giữ của Giàng Seo M 01 túi nilon màu trắng, chứa chất bột khô, màu trắng, vón cục. Thu giữ của Sùng Thị D 01 cân tiểu ly vỏ gỗ và 01 túi nilon màu trắng, trong túi nilon có 02 túi nilon màu xanh lồng vào nhau, bên trong có 01 túi nilon màu xanh, bên trong là hai lớp nilon màu trắng chứa chất bột khô màu trắng, vón cục; 01 túi nilon màu trắng bên trong là lớp nilon màu hồng, trong cùng là lớp nilon màu trắng chứa chất bột khô, màu trắng, vón cục; 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa chất bột khô, màu trắng, vón cục; 02 túi nilon màu trắng lồng vào nhau, bên trong chứa chất bột khô, màu trắng, vón cục. Giàng Seo M và Sùng Thị D đều khai nhận là ma túy đang trên đường mang đi bán.

Tại bản kết luận giám định số: 51/GĐMT ngày 21/02/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai kết luận: Số vật chứng thu giữ của Giàng Seo M và Sùng Thị D ngày 13/02/2020 là loại chất ma túy Heroine, có tổng khối lượng là 333,16 gam.

Quá trình điều tra các bị cáo khai nhận như sau:

Khoảng đầu năm 2017, Giàng Seo M đi chơi ở Điện Biên có quen biết với một người đàn ông tên H2, người Mông ở bên nước Lào. H2 bảo Giàng Seo M bán ma túy cho H2, Giàng Seo M đồng ý. Cách ngày bị bắt khoảng 1 tuần, H2 đến nhà và đưa cho Giàng Seo M 05 gói ma túy Heroine và 01 chiếc cân tiểu ly vỏ bằng gỗ bảo Giàng Seo M mang đi bán giá 150 triệu đồng; nếu bán được hơn thì Giàng Seo M sẽ hưởng số tiền bán ma túy được hơn đó. Sau khi nhận được ma túy, Giàng Seo M đã đưa số ma túy trên và cân tiểu ly cho vợ là Sùng Thị D cất giấu. Sùng Thị D giấu số ma túy trên cùng chiếc cân tiểu ly dưới chân giường ngủ của hai vợ chồng. Đến trưa ngày 13/02/2020, một người phụ nữ gọi điện cho Giàng Seo M hỏi mua ma túy. Giàng Seo M và người phụ nữ thống nhất giá bán ma túy là 26 triệu đồng một cây theo cân tiểu ly và hẹn gặp nhau tại đường Q1 đi L, huyện T1. Sau khi bàn bạc việc mua bán ma túy xong, Giàng Seo M bảo Sùng Thị D lấy ma túy mang đi bán cùng M. Giàng Seo M cầm theo 01 gói ma túy để mang cho người phụ nữ kiểm tra, còn lại 04 gói ma túy và cân tiểu ly Sùng Thị D dùng 01 chiếc khăn quấn lại và buộc vào ngang thắt lưng. Sau đó Giàng Seo M điều khiển chiếc xe mô tô Wave RXS, màu đỏ, đen, không biển kiểm soát chở Sùng Thị D đi bán ma túy, khi đi đến địa phận thôn N, xã Kh, huyện V, tỉnh Lào Cai thì bị tổ công tác Công an huyện V kiểm tra, phát hiện bắt quả tang, thu giữ toàn bộ số ma túy.

Cáo trạng số 18/CT - VKS - P1 ngày 13/4/2020 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai truy tố các bị cáo Giàng Seo M và Sùng Thị D về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b Khoản 4 Điều 251 Bộ luật hình sự;

Tại phiên tòa: Các bị cáo Giàng Seo M và Sùng Thị D khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của M như đã tóm tắt ở trên và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội và tranh luận: Tại phiên tòa các bị cáo Giàng Seo M và Sùng Thị D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của M. Do đó Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo; đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Giàng Seo M và Sùng Thị D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

Căn cứ điểm b khoản 4 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, 58 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Giàng Seo M mức án tù Chung thân; Xử phạt bị cáo Sùng Thị D mức án 20 năm tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo; xử lý vật chứng, án phí theo quy định của pháp luật.

Ý kiến của những người bào chữa cho bị cáo Giàng Seo M: Nhất trí với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai về tội danh và điều luật áp dụng đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo 20 năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Ý kiến của những người bào chữa cho bị cáo Sùng Thị D: Nhất trí với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai về tội danh và điều luật áp dụng đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo 17- 18 năm tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, người bào chữa cho các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Do hám lợi, trước ngày các bị cáo bị bắt khoảng một tuần, bị cáo Giàng Seo M đã nhận 333,16 gam Heroine của người tên H2 để bán. Sau khi nhận ma túy, Giàng Seo M đã đưa cho vợ là Sùng thị D cất giấu. Ngày 13/02/2020, khi có người hỏi mua ma túy, Giàng Seo M đã bảo vợ lấy ma túy cùng mang đi bán. Trên đường đi bán ma túy thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang, vật chứng thu giữ là 333,16 gam Heroine .

Hành vi của các bị cáo Giàng Seo M và Sùng Thị D là hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy”. Vì vậy các bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai truy tố về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo điểm b khoản 4 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Các bị cáo Giàng Seo M và Sùng Thị D là người có năng lực trách nhiệm hình sự, hiểu biết pháp luật, các bị cáo biết rõ nhà nước ta nghiêm cấm mọi hành vi tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép các chất ma túy. Nhưng do hám lợi, bị cáo Giàng Seo M đã mua trái phép 333,16 gam Heroine và cùng Sùng Thị D cất giấu và vận chuyển mang đi bán. Hành vi của các bị cáo Giàng Seo M và Sùng Thị D đã cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung “Heroine có khối lượng 100 gam trở lên” tội phạm và hình phạt quy định tại điểm b khoản 4 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Hành vi của các bị cáo Giàng Seo M và Sùng Thị D là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước được pháp luật bảo vệ, hành vi đó gây mất trật tự trị an tại địa phương. Hành vi phạm tội của các bị cáo thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, các bị cáo đã mua bán trái phép ma túy với khối lượng lớn vì vậy phải xử lý các bị cáo thật nghiêm khắc để thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật, đồng thời lấy đó làm bài học cho công tác đấu tranh phòng chống tội phạm.

Đây là vụ án có hai bị cáo thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, nhưng không phải là phạm tội có tổ chức mà chỉ là đồng phạm giản đơn, vai trò của các bị cáo được xác định như sau:

Bị cáo Giàng Seo M là người trực tiếp nhận ma túy, đưa ma túy cho Sùng Thị D cất giấu; trực tiếp vận chuyển ma túy đi bán nên bị cáo chịu trách nhiệm chính trong vụ án.

Bị cáo Sùng Thị D sau khi được M đưa cho gói ma túy bị cáo đã nhận, cất giấu ma túy; sau đó cùng M vận chuyển đi bán nên bị cáo phải chịu trách nhiệm đồng phạm với vai trò là người thực hành.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi bị bắt, quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đây là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cần áp dụng cho các bị cáo khi quyết định hình phạt.

Về hình phạt bổ sung: Đối với Giàng Seo M cần áp dụng thêm hình phạt bổ sung là phạt tiền.

Về vật chứng: Cơ quan điều tra có thu giữ:

- 333,16 gam Heroine, đã trích mẫu giám định, còn lại 327,19 gam được niêm phong theo quy định; 01 Chiếc khăn vải màu xanh đỏ; 01 cân tiểu ly vỏ bằng gỗ; 01 túi thổ cẩm; 01 ví da màu đen; các túi ni lon đây là vật chứng của vụ án và tài sản không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

- 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA loại xe RSX màu đỏ đen, không biển kiểm soát, xe cũ, bị vỡ gương trái vỏ xe có nhiều vết sước số khung 4320AY258165, số máy JC43E5735655; 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô BKS 24V1-216.99 mang tên Giàng Seo M; 01 BKS xe mô tô 24V1-216.99 là tài sản của các bị cáo, các bị cáo đã sử sụng vào việc phạm tội nên tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.

- 01 điện thoại di động NOKIA 105 trong máy lắp thẻ sim, đã cũ thu giữ của Giàng Seo M, bị cáo đã sử dụng vào liên lạc mua bán ma túy nên tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.

- 01 giấy chứng minh nhân dân mang tên Giàng Seo M và 335.000 đồng thu giữ của Giàng Seo M; 01 giấy chứng minh nhân dân mang tên Sùng Thị D và 2.126.000 đồng thu giữ của Sùng Thị D đây là giấy tờ tùy thân và tài sản chung của vợ chồng bị cáo nên trả lại cho các bị cáo, song tạm giữ số tiền để thi hành án.

Về án phí: Bị cáo bị kết án nên bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố các bị cáo Giàng Seo M và Sùng Thị D phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

Căn cứ điểm b khoản 4, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, 58 Bộ luật Hình sự:

- Xử phạt bị cáo Giàng Seo M tù Chung thân. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 13/02/2020. Phạt bị cáo 5.000.000 đồng nộp ngân sách nhà nước.

- Xử phạt bị cáo Sùng Thị D 20 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 13/02/2020.

Về vật chứng: Căn cứ vào khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

* Tịch thu tiêu hủy:

- 27,90 gam Heroine còn lại sau trích mẫu, được niêm phong trong 01 bì niêm phong vật chứng của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Lào Cai, được dán kín các mép, tại các mép dán của bì niêm phong có chữ ký của những người tham gia niêm phong và đóng dấu của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Lào Cai. Trên một mặt của bì niêm phong có ghi: “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ của Giàng Seo M ngày 13/02/2020 tại xã Kh, huyện V, tỉnh Lào Cai”. Niêm phong còn nguyên vẹn, đúng quy định;

- 229,29 gam Heroine còn lại sau trích mẫu, được niêm phong trong 01 hộp niêm phong vật chứng của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Lào Cai, được dán kín các mép, tại các mép dán của bì niêm phong có chữ ký của những người tham gia niêm phong và đóng dấu của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Lào Cai. Trên một mặt của bì niêm phong có ghi: “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ của Sùng Thị D ngày 13/02/2020 tại xã Kh, huyện V, tỉnh Lào Cai”. Niêm phong còn nguyên vẹn, đúng quy định;

- Các túi nilon được niêm phong trong 01 bì niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Lào Cai, được dán kín các mép, tại các mép dán của bì niêm phong có chữ ký của những người tham gia niêm phong và đóng dấu của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Lào Cai. Trên một mặt của bì niêm phong có ghi: “Vật chứng sau trích mẫu giám định dấu vết đường vân trong vụ án Giàng Seo M và Sùng Thị D có hành vi phạm tội về ma túy. Phát hiện, bắt giữ ngày 13/02/2020 tại thôn N, xã Kh, huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai”. Niêm phong còn nguyên vẹn, đúng quy định.

- 01 Chiếc khăn vải màu xanh đỏ; 01 cân tiểu ly vỏ bằng gỗ; 01 túi thổ cẩm; 01 ví da màu đen.

* Tịch thu nộp ngân sách nhà nước:

- 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA loại xe RSX màu đỏ đen, không biển kiểm soát, xe cũ, bị vỡ gương trái vỏ xe có nhiều vết sước số khung 4320AY258165, số máy JC43E5735655; 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô BKS 24V1-216.99 mang tên Giàng Seo M; 01 BKS xe mô tô 24V1-216.99.

- 01 điện thoại di động NOKIA 105 trong máy lắp thẻ sim.

* Tạm giữ: 335.000 đồng của Giàng Seo M; 2.126.000 đồng của Sùng Thị D để đảm bảo việc thi hành án.

* Trả lại cho bị cáo Giàng Seo M giấy chứng minh nhân dân mang tên Giàng Seo M; bị cáo Sùng Thị D giấy chứng minh nhân dân mang tên Sùng Thị D.

(Các vật chứng thể hiện cụ thể theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 13/4/2020; số tiền được gửi tại tài khoản số 3949.0.9051074 kho bạc nhà nước tỉnh Lào Cai theo giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 25/3/2020).

Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 nghị quyết 326/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễm, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Giàng Seo M và bị cáo Sùng Thị D mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b, 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ