vanban.org

Bản án 24/2020/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Hưng Yên Tuyên án 27/04/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Quyết T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Hình phạt: Biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật hình sự 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Quyết T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều củ…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Quyết T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HƯNG YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2020/HS-ST
Ngày: 27/4/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Trần Văn Thưởng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lương Thường Tín

Ông Lê Văn Nguyên.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Anh

- Đại diện Viện kiểm sát tỉnh Hưng Yên tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Phương Chi- Kiểm sát viên;

Ngày 27/4/2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 29/2020/TLST-HS ngày 05 tháng 3 năm 2020; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2020/QĐXXST-HS ngày 16/4/20120 đối với bị cáo:

Họ và tên: Đỗ Quyết T, giới tính: Nam; tên gọi khác: không; Sinh năm: 1995 tại: huyện K, tỉnh Hưng Yên. Trình độ học vấn: 11/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Nơi cư trú: Đội 1, thôn Đ, xã H, huyện K, tỉnh Hưng Yên. Con ông: Đỗ Đình C, sinh năm 1972. Con bà: Lưu Thị V, sinh năm 1974. Gia đình bị cáo có 02 chị em, T là con út. Vợ: Nguyễn Thị P, sinh năm 1996. Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2019. Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 19/12/2019 đến ngày 25/12/2019 chuyển tạm giam. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn là tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hưng Yên. (Có mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án:

Chị Nguyễn Thị P, sinh năm 1996; Trú tại: đội 1, thôn Đ, xã H, huyện K, tỉnh Hưng Yên; (Có mặt)

- Người làm chứng:

Anh Lê Văn V1, sinh năm: 1997; Chị Nguyễn Thị N, sinh năm:1992;

- Người chứng kiến

Ông Phan Quốc Bảo, sinh năm: 1958; Chị Lưu Thị V, sinh năm: 1974;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ ngày 18/12/2019 tại khu vực nghĩa trang thôn Đặng Xá, xã Cương Chính, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên, phòng CSĐT tội phạm về ma túy - Công an tỉnh Hưng Yên tiến hành kiểm tra 02 đối tượng. Người thứ nhất tự khai tên là Lê Văn V1, sinh năm 1997; HKTT: thôn Nho Lâm, xã Mai Động, huyện K, tỉnh Hưng Yên; phát hiện thu giữ tại túi quần phía trước, bên phải V1 đang mặc 01 túi nilon có viền dính và dòng kẻ đỏ một đầu bên trong chứa tinh thể kết tinh màu trắng (được niêm phong ký hiệu số I), 01 coóng thủy tinh, 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone; Người thứ hai tự khai tên là Nguyễn Thị N, sinh năm 1992; HKTT: số 56 đường Nguyễn Thiện Thuật, phường Lê Lợi, TP. Hưng Yên, kiểm tra người N không thu giữ gì. Đối tượng Lê Văn V1 và Nguyễn Thị N khai nhận vừa đến nhà Đỗ Quyết T, sinh năm 1995; HKTT: Đội 1, thôn Đ, xã H, huyện K, tỉnh Hưng Yên mua ma túy tổng hợp đựng trong túi nilon với giá 300.000đồng để cùng sử dụng nhưng chưa kịp sử dụng hết đã bị Cơ quan CSĐT kiểm tra thu giữ.

Ngày 19/12/2019 Cơ quan CSĐT- Công an tỉnh Hưng Yên đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở và ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Đỗ Quyết T, sinh năm 1995; HKTT: Đội 1, thôn Đ, xã H, huyện K, tỉnh Hưng Yên. Cơ quan điều tra đã thu giữ: 01 túi nilon có viền dính và dòng kẻ đỏ một đầu bên trong chứa tinh thể kết tinh màu trắng tại phía trên góc bể nước khu bếp (được niêm phong ký hiệu số II); 01 lọ nhựa nắp đậy màu đen, phần thân lọ dán nhãn dòng chữ DETOXIC bên trong có 22 túi nilon đều chứa tinh thể kết tinh màu trắng tại góc sân phía bên trái cổng (được niêm phong trong hộp bìa cattong ký hiệu số III); Thu giữ 30 túi nilon viền dính và dòng kẻ đỏ một đầu kích thước 02x1,5cm tại góc sân bên phải cổng và một chai nhựa có gắn một ống coóng thủy tinh trên tầng hai; Tạm quản lý 01 xe ô tô nhãn hiệu HYUNDAI ACCENT, màu trắng BKS: 89A-149.66; 02 bản sao giấy chứng nhận đăng ký của chiếc xe này. Kiểm tra thu giữ tại túi quần bên trái phía trước T đang mặc 01 ĐTDĐ nhãn hiệu IPHONE, màu trắng vàng, bên trong có lắp một sim liên lạc có 5 số hàng cuối trên sim là 77126.

Bản kết luận số 34/PC09 ngày 22/12/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự-Công an tỉnh Hưng Yên kết luận:

Mẫu chất dạng tinh thể kết tinh màu trắng trong niêm phong ký hiệu số I có khối lượng 0,004gam là ma túy loại Methamphetamine.

Mẫu chất dạng tinh thể kết tinh màu trắng trong niêm phong ký hiệu số II có khối lượng 0,293gam là ma túy loại Methamphetamine.

Mẫu chất dạng tinh thể kết tinh màu trắng trong niêm phong ký hiệu số III có khối lượng 3,739gam là ma túy loại Methamphetamine.

Bị can Đỗ Quyết T khai nhận đã mua số ma túy trên của một người đàn ông ở khu vực đê bến đò Vườn Chuối thuộc huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội với giá 5.000.000đồng. T mang túi ma túy về nhà đổ một ít vào coóng để sử dụng số còn lại chia thành 24 túi nhỏ. Ngày 18/12/2019 T bán cho V1 01 túi ma túy đá với giá 300.000 đồng, còn 23 túi cất ở nhà để bán và sử dụng dần, nhưng chưa kịp bán thì bị bắt, thu giữ. Số tiền T dùng để mua ma túy đá là do lao động làm thuê tích góp có được.

Đối tượng bán ma túy cho Đỗ Quyết T hiện chưa có căn cứ để xử lý.

Do khối lượng ma túy thu giữ của Lê Văn V1 và Nguyễn Thị N chưa đến 0,1gam. Vì vậy ngày 30/12/2019 Phòng CSĐT tội phạm về ma túy- Công an tỉnh Hưng Yên ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Lê Văn V1 và Nguyễn Thị N về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

* Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật, xử lý vật chứng;

- Ngày 21 tháng 01 năm 2020 Cơ quan CSĐT- Công an tỉnh Hưng Yên đã trả lại cho chị Nguyễn Thị P (là vợ của Đỗ Quyết T) chiếc xe ô tô nhãn hiệu HYUNDAI ACCENT, màu trắng BKS: 89A-149.66 và giấy tờ xe vì không liên quan đến việc vận chuyển ma túy.

Các vật chứng, đồ vật đang bảo quản tại kho vật chứng Công an tỉnh Hưng Yên:

- 01 phong bì niêm phong hoàn mẫu vật sau giám định số 34/MT-PC09 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hưng Yên.

- 01 ĐTDĐ nhãn hiệu IPHONE, màu trắng vàng, bên trong có lắp một sim liên lạc có năm số hàng cuối trên sim là 77126.

- 01 coóng thủy tinh.

- 01 chai nhựa cao khoảng 20cm, bên trong có nước, nắp đậy màu xanh bên trên nắp gắn một ống coóng thủy tinh và một ống hút nhựa dài khoảng 30cm.

- 30 túi nilon có viền dính và dòng kẻ đỏ một đầu kích thước 02x1,5cm.

Tại cáo trạng số 31/CT-VKS-P1 ngày 05/3/2020 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên đã truy tố bị cáo Đỗ Quyết T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo T thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã nêu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên trình bày bản luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo T về tội Mua bán trái phép chất ma túy và đề nghị: Áp dụng điểm khoản 1, khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Đỗ Quyết T. Xử phạt bị cáo T từ 03 năm 6 tháng đến 04 năm tù. Phạt bổ sung bị cáo 10 triệu đồng nộp vào Ngân sách nhà nước.

Về biện pháp tư pháp: đại diện Viện kiểm sát đề nghị tịch thu cho tiêu hủy số ma túy hoàn trả sau giám định trong 01 phong bì niêm phong hoàn mẫu vật sau giám định số 34/MT-PC09 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hưng Yên và các đồ vật không giá trị sử dụng như 01 coóng thủy tinh; 01 chai nhựa cao khoảng 20cm, bên trong có nước, nắp đậy màu xanh bên trên nắp gắn một ống coóng thủy tinh và một ống hút nhựa dài khoảng 30cm; Tịch thu, sung quỹ nhà nước 01 ĐTDĐ nhãn hiệu IPHONE, màu trắng vàng, bên trong có lắp một sim liên lạc có năm số hàng cuối trên sim là 77126 của bị cáo T và truy thu số tiền 300.000đ của bị cáo T do phạm tội mà có. Bị cáo T phải chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan Cảnh sát Điều tra- Công an tỉnh Hưng Yên và Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo T khai báo tự nguyện, không bị ép cung, nhục hình và không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo T:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Đỗ Quyết T thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của anh Lê Văn V1 và chị Nguyễn Thị N là người mua ma túy của T cùng sự chứng kiến của ông Phan Quốc Bảo, chị Lưu Thị V và các vật chứng đã thu giữ. Phù hợp với Kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự- Công an tỉnh Hưng Yên; Đủ căn cứ kết luận: Khoảng 14 giờ ngày 18/12/2019 tại thôn Đ thuộc xã H, huyện K, tỉnh Hưng Yên, Đỗ Quyết T đã bán trái phép cho Lê Văn V1 01 túi ma túy loại Methamphetamine với giá 300.000 đồng. Khám xét khẩn cấp nơi ở của T thu giữ 4,032 gam ma túy loại Methamphetamine. Tổng số ma túy Đỗ Quyết T dùng vào việc mua bán trái phép là 4,036 gam ma túy loại Methamphetamine.

Hành vi nêu trên của Đỗ Quyết T đã phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy. Tội phạm và hính phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. Do vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên truy tố bị cáo phạm tội theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Đối với anh Lê Văn V1 và chị Nguyễn Thị N có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, nhưng khối lượng đều dưới 0,1 gam nên chưa cấu thành tội phạm. Cơ quan điều tra Công an tỉnh Hưng Yên đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với V1 và N về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo T là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý đặc biệt của nhà nước đối với các chất ma túy và chất gây nghiện. Tội phạm ma túy đang là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm và vi phạm pháp luật khác, gây mất trật tự trị an; đồng thời, tội phạm ma túy còn là nguồn cơn reo rắc sự khổ đau, bất hạnh cho gia đình và xã hội. Bị cáo T là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, ý thức rõ tác hại do ma túy và tội phạm ma túy gây ra nhưng vẫn thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Vì vậy, cần phải xét xử bị cáo nghiêm minh, tương xứng với tính chất, mức độ hậu quả mà bị cáo gây ra mới có tác dụng giáo dục, cải tạo và phòng ngừa tội phạm.

Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa T thành khẩn nhận tội, bị cáo có bố đẻ là Đỗ Đình C được Chủ tịch nước tặng huy chương chiến sỹ vẻ vang năm 2001. Vì vậy, bị cáo T được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về nhân thân: bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự nào.

Về hình phạt: Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo như đã phân tích ở trên, HĐXX xét thấy cần cách ly bị cáo T ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, với mức án như Viện kiểm sát đề nghị tại phiên tòa là phù hợp.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Đỗ Quyết T phạm tội với động cơ, mục đích vụ lợi, thu lợi bất chính nên buộc bị cáo phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Biện pháp tư pháp:

+ Đối với số ma túy hoàn trả sau giám định đựng trong 01 phong bì niêm phong số 34/MT-PC09 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hưng Yên là vật cấm lưu hành nên sẽ tịch thu cho tiêu hủy.

+ Đối với 01 coóng thủy tinh; 01 chai nhựa cao khoảng 20cm, bên trong có nước, nắp đậy màu xanh bên trên nắp gắn một ống coóng thủy tinh và một ống hút nhựa dài khoảng 30cm; 30 túi nilon có viền dính và dòng kẻ đỏ một đầu kích thước 02x1,5cm là vật chứng của vụ án nhưng không có giá trị sử dụng nên tịch thu cho hủy.

+ Đối với 01ĐTDĐ nhãn hiệu IPHONE, màu trắng vàng, bên trong có lắp một sim liên lạc có năm số hàng cuối trên sim là 77126 thu của Đỗ Quyết T, bị cáo sử dụng điện thoại này để liên lạc bán ma túy nên tịch thu, bán đấu giá nộp vào ngân sách nhà nước.

+ Truy thu 300.000đ của bị cáo T từ việc bán ma túy trái phép cho Lê Văn V1 và chị Nguyễn Thị N ngày 18/12/2019.

Đối với chiếc xe ô tô nhãn hiệu HYUNDAI ACCENT, màu trắng BKS: 89A-149.66 và giấy tờ xe cơ quan điều tra thu giữ khi khám xét nhà T; Ngày 21 tháng 01 năm 2020 Cơ quan CSĐT- Công an tỉnh Hưng Yên đã xem xét trả lại cho chị Nguyễn Thị P (là vợ của Đỗ Quyết T) vì không liên quan đến việc vận chuyển ma túy là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về án phí: Bị cáo T phạm tội nên phải chịu án phí theo Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Quyết T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

2. Hình phạt:

Áp dụng khoản 1 và khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Đỗ Quyết T 03 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 19/12/2019. Phạt bổ sung Đỗ Quyết T 10.000.000đ nộp vào ngân sách nhà nước.

3. Biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật hình sự 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

3.1. Tịch thu, tiêu hủy số ma túy đựng trong 01 phong bì niêm phong hoàn trả mẫu vật sau giám định số 34/MT-PC09 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hưng Yên.

3.2. Tịch thu, tiêu hủy: 01 coóng thủy tinh; 01 chai nhựa cao khoảng 20cm, bên trong có nước, nắp đậy màu xanh bên trên nắp gắn một ống coóng thủy tinh và một ống hút nhựa dài khoảng 30cm; 30 túi nilon có viền dính và dòng kẻ đỏ một đầu, kích thước 02x1,5cm.

3.3. Tịch thu, bán đấu giá, nộp ngân sách nhà nước: 01điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE, màu trắng vàng, bên trong có lắp một sim liên lạc có năm số hàng cuối trên sim là 77126 thu của Đỗ Quyết T.

3.4 Truy thu của bị cáo Đỗ Quyết T số tiền 300.000đồng nộp vào Ngân sách nhà nước

(Tình trạng, đặc điểm chi tiết các vật chứng nêu trên được thể hiện theo Quyết định chuyển vật chứng số 08/QĐ-VKS-P1 ngày 05/3/2020 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên).

4. Về án phí: Bị cáo Đỗ Quyết T phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

HỘI THẢM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lương Thường Tín

Lê Văn Nguyên

Trần Văn Thưởng

Cỡ chữ