vanban.org

Bản án 24/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang Tuyên án 26/05/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Th phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn Th 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 20 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Th phạm tội đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Th phạm tội “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN DŨNG CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2020/HS-ST
Ngày 26 tháng 5 năm 2020

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN DŨNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Anh.

Các hội thẩm nhân dân: 1.Bà Đinh Thị Thu Huyền.

2. Bà Nguyễn Thị Tin.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Duy Tuyên - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Dũng tham gia phiên tòa: Bà

Nguyễn Thị Quỳnh Mai - Kiểm sát viên.

Trong ngày 26 tháng 5 năm 2020 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Y, tỉnh

Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 19/2020/TLST-HS ngày 24 tháng 4 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2020/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 5 năm 2020 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn Th, sinh năm 1985, tại Bắc Giang; nơi cư trú: Tiểu khu X, thị

trấn N (nay là thị trấn Nh), huyện Y, Bắc Giang; Nghề nghiệp: kinh doanh; Tr độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Svà bà Đỗ thị Đ; ); vợ: Trần Thị L; con: Có 02 con, lớn sinh năm 2008, nhỏ sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Không; Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ từ ngày 14/01/2020 đến ngày 17/01/2020, được thay thế biện pháp ngăn chặn bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện tại ngoại (Có mặt tại phiên tòa).

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

+ Anh Trần Văn M, sinh năm 1996.(vắng mặt).

+ Anh Nguyễn Văn Q, sinh năm 1993.(vắng mặt).

Đều ở địa chỉ: Thôn Đ, xã S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

+ Anh Vũ Văn D, sinh năm 1979; địa chỉ: Thôn N, xã C, huyện Y, tỉnh Bắc

Giang.(vắng mặt)

+ Anh Hoàng Công Tr, sinh năm 1986; địa chỉ: Tiểu khu Y, thị trấn N,

huyện Y, tỉnh Bắc Giang.(vắng mặt)

+ Anh Nguyễn Văn Th2, sinh năm 1974; địa chỉ: Thôn K, thị trấn N, huyện

Y, tỉnh Bắc Giang.(vắng mặt)

+ Anh Đoàn Tuấn V, sinh năm 1990; địa chỉ: Thôn S, xã K, thành phố B,

tỉnh Bắc Giang.(vắng mặt)

+ Anh Thân Văn Th, sinh năm 1981; địa chỉ: Tổ dân phố Q, thị trấn T,

huyện Y, tỉnh Bắc Giang.(vắng mặt)

+ Chị Nguyễn Thị Thanh Ng, sinh năm 1982; địa chỉ: Tổ dân phố Q, thị

trấn T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.(vắng mặt)

+ Anh Trần Thanh B, sinh năm 1972; địa chỉ: Thôn Đ, thị trấn N, huyện Y,

tỉnh Bắc Giang.(vắng mặt)

- Người làm chứng: Anh Hoàng Hữu H, sinh năm 1998; địa chỉ: Thôn B, xã

C, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.(vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ

án được tóm tắt như sau:

Hồi 15 giờ 50 phút ngày 14/01/2020, tại quán “Trò chơi Game giải trí” thuộc

Tiểu khu Z, thị trấn N (nay là thị trấn Nh), huyện Y; Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bắc Giang phối hợp với Công an huyện Y bắt quả tang Nguyễn Văn Th, sinh năm 1985, ở Tiểu khu X, thị trấn N, huyện Y đang có hành vi đánh bạc trái phép dưới hình thức chơi game bắn cá (cá cược điểm trên máy trò chơi bắn cá) với các đối tượng: Trần Văn M, sinh năm 1996; Nguyễn Văn Q, sinh năm 1993 đều ở thôn Đ, xã S, thành phố B; Vũ Văn D, sinh năm 1979, ở Thôn N, xã C, huyện Y; Hoàng Công Tr, sinh năm 1986, ở Tiểu khu Y, thị trấn N, huyện Y; Nguyễn Văn Th2, sinh năm 1974, ở Thôn K, xã Nham Sơn (nay là thị trấn Nh), huyện Y và đối tượng tự khai tên Đoàn Tuấn V, sinh năm 1990, ở thôn S 1, xã K, thành phố B. Tang vật thu giữ gồm: 01 máy bắn cá màu vàng có 08 vị trí ngồi chơi; 06 chiếc ghế nhựa màu đỏ và 04 thẻ nhựa màu xanh và 6.000.000 đồng (Bl 40-44).

Thu giữ trên người các đối tượng: Vũ Văn D: 01 xe mô tô biển kiểm soát

98B1-271.47; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu tím-đen và 6.650.000 đồng; Nguyễn Văn Th2 01 xe mô tô biển kiểm soát 98B3 - 269.39; 01 điện thoại đi động nhãn hiệu Viettel, màu xám, 600.000đ (số tiền này nằm trong tổng số tiền thu giữ trên chiếu bạc); Nguyễn Văn Q: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel, màu xanh, đen và 200.000 đồng; Hoàng Công Tr: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Viettel, màu xám; Đoàn Tuấn V: 1.510.000 đồng (Bl 47-49);

Cùng ngày, tiến hành khám xét khẩn cấp tại quán “Trò chơi Game giải trí”

thuộc Tiểu khu Z, thị trấn N, huyện Y, Cơ quan điều tra thu giữ: 03 máy trò chơi điện tử (game bắn cá) màu vàng có bề mặt bằng kính thủy tinh, thân vỏ bằng kim loại; 01 xe mô tô biển kiểm soát 98M9-1723; 01 xe mô tô biển kiểm soát 29F6-5096; 01 đầu thu Camera nhãn hiệu @Jhua, màu đen; 01 bình xịt vỏ bằng kim loại, màu đen trên thân bình có ghi ký hiệu TAKE DOWN 005.5F0GGER.MX - IX; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu vàng, phía sau máy ghi MODEL A1688; ID: BCG - E2946A; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu trắng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu đồng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu đồng, phía sau máy ghi Model: A1687; ID: BCG - E2944A; 01 điện thoại di động nhãn OPPO màu đỏ; 01 điện thoại di động nhãn nhãn hiệu Mi, màu vàng.

Ngoài ra, trong quá Tr bắt quả tang và khám xét khẩn cấp, Th tự nguyện giao

nộp 01 thanh ống nước bằng thép phần đầu có hàn lưỡi dao nhọn, tổng chiều dài 1,78 mét; 01 thanh kiếm vỏ nhựa màu đen, chiều dài từ phần chuôi đến phần đầu là 01m và 01 chiếc ví da của Th bên trong có tổng số tiền là 6.000.000 đồng (Bl 45; 52-53).

Đấu tranh ghi lời khai nhanh, Th khai nhận, được anh Thân Văn Th, sinh năm

1981 và chị Nguyễn Thị Thanh Ng, sinh năm 1982, cùng ở Tổ dân phố Q, thị trấn T, huyện Y (là chú thím ruột của Th) giao cho quản lý quán và 04 máy bắn cá để chơi Game giải trí dưới hình thức máy bắn cá tại Tiểu khu Z, thị trấn N, huyện Y từ tháng 12/2019. Việc kinh doanh dịch vụ Game nêu trên Th tự chịu chi phí lỗ, lãi phát sinh. Ngày 14/01/2020, Th lợi dụng trò chơi giải trí để thực hiện hành vi đánh bạc cá cược bằng tiền đối với những khách đến chơi Game giải trí trên máy bắn cá số 3 (tính theo thứ tự từ cửa đi vào). Hình thức cá cược được Th quy định như sau:

Th và các đối tượng sử dụng 01 máy trò chơi điện tử (máy bắn cá) màu vàng,

bề mặt của máy bằng thủy tinh, thân vỏ bằng kim loại, có 08 vị trí ngồi chơi. Tại mỗi vị trí đều có 01 tay cầm để điều chỉnh hướng của súng bắn cá. Đồng thời, Th sử dụng 01 thẻ nhựa màu xanh (hay còn gọi là thẻ từ) để quẹt kích điểm khi người chơi nạp tiền cũng như khi người chơi đổi điểm lấy tiền mặt. Th quy định: Người chơi bỏ ra số tiền 100.000đ để mua điểm thì sẽ được Th dùng thẻ từ để kích điểm cho người chơi là 10.000 điểm. Ngược lại người chơi đánh thắng và đổi điểm lấy tiền mặt thì Th quy định 10.000 điểm sẽ được Th trả số tiền là 100.000đ. Mua điểm từ Th xong các đối tượng sẽ sử dụng tay cầm tại vị trí chỗ ngồi của mình để bắn cá nổi trên màn hình của máy. Trường hợp người chơi thua hết điểm để bắn cá thì sẽ bỏ tiền ra để mua điểm từ Th. Trường hợp người chơi đánh thắng với máy thì sẽ được tự động cộng điểm vào tổng sổ điểm đã mua trước đó và nếu đổi điểm lấy tiền mặt thì số điểm đã đổi sẽ bị trừ đi trong tổng số điểm của người chơi đang hiển thị trên màn hình.

Khoảng 15 giờ 50 phút ngày 14/01/2020, khi Th cùng các đối tượng đang

chơi bạc thì bị lực lượng Công an phát hiện vây bắt quả tang thu giữ tang vật.

Về số tiền đánh bạc và tài sản bị thu giữ, các đối tượng khai nhận:

Nguyễn Văn Th khai: Trước khi đánh bạc Th có số tiền là 7.000.000 đồng,

sau đó có Hoàng Công Tr, sinh năm 1986 ở Tiểu khu Y, thị trấn N, huyện Y đến nạp 100.000 đồng để chơi giải trí, do vậy tổng số tiền Th có là 7.100.000 đồng. Th cho Nguyễn Văn Th2 vay 1.000.000đ, còn 6.100.000đ sử dụng toàn bộ vào việc đánh bạc.

Cụ thể: Vũ Văn D nạp tiền 03 lần mỗi lần 100.000 đồng, D đổi điểm lấy tiền

01 lần với số tiền là 200.000 đồng; Nguyễn Văn Th2 nạp tiền 04 lần mỗi lần 100.000 đồng, Th2 chưa đổi điểm để lấy tiền. Nguyễn Văn Q nạp tiền 05 lần, mỗi lần 500.000 đồng, Q đổi điểm lấy tiền 02 lần, lần 1 đổi 1.000.000 đồng, lần 2 đổi 500.000 đồng. Trần Văn M nạp tiền 05 lần, trong đó có 04 lần mỗi lần nạp 500.000 đồng, 01 lần nạp 300.000 đồng, M đổi điểm lấy tiền 01 lần với số tiền là 500.000 đồng. Đoàn Tuấn V nạp tiền 01 lần với số tiền 100.000 đồng, V thua hết điểm nên không chơi nữa. Số tiền Th bị thu giữ khi khám xét 6.000.000đ là tiền để đánh bạc. 01 đầu thu Camera nhãn hiệu @Jhua màu đen; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu vàng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu trắng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu đồng; 01 điện thoại di động nhãn OPPO màu đỏ và 01 điện thoại di động nhãn nhãn hiệu Mi, màu vàng là của Th không sử dụng để đánh bạc (Bl 71-91).

Vũ Văn D khai: Trước khi đánh bạc, D có tổng số tiền là 6.650.000 đồng. Sử

dụng 200.000đ để đánh bạc. D mua điểm chơi làm 3 lần, mỗi lần 100.000đ nhưng mua điểm lần thứ 3 chưa trả tiền cho Th, trong khi chơi D đổi điểm một lần lấy 200.000đ. Như vậy, số tiền D đánh bạc là 500.000đ. Số tiền 6.650.000đ bị thu giữ có 200.000đ là tiền đánh bạc. Số tiền còn lại 6.450.000đ cùng chiếc xe mô tô và chiếc điện thoại bị thu giữ không sử dụng vào mục đích đánh bạc (Bl 111-118).

Nguyễn Văn Q khai: Trước khi đánh bạc, Q có tổng số tiền là 3.000.000đ, sử

dụng 2.500.000 đồng để đánh bạc, còn 500.000đ để trên mặt máy bắn cá tại vị trí Q ngồi nhưng không dùng để đánh bạc. Trong quá Tr chơi Q đã đổi điểm lấy số tiền 1.500.000đ, trong số tiền này Q gửi V 1.000.000đ, cho M vay 300.000đ, còn lại 200.000 đồng Q để trong túi áo. Như vậy, số tiền Q đánh bạc là 4.000.000đ. Số tiền 200.000đ bị thu giữ là tiền đánh bạc, chiếc điện thoại bị thu giữ không sử dụng để đánh bạc (Bl 98-104).

Nguyễn Văn Th2 khai: Trước khi tham gia đánh bạc không có tiền nên đã vay

Th 1.000.000đ để đánh bạc. Trong quá Tr đánh bạc, Th2 mua điểm 04 lần, mỗi lần 100.000đ, quá Tr đánh bạc, Th2 chưa đổi điểm lấy tiền. Số tiền 600.000 đồng bị thu giữ, là tiền đánh bạc. Chiếc xe mô tô và chiếc điện thoại bị thu giữ không sử dụng để đánh bạc (Bl 140-142; 146-147).

Trần Văn M khai: Trước khi đánh bạc, M có 2.000.000 đồng sử dụng toàn bộ

để đánh bạc, trong quá Tr đánh bạc có vay Q 300.000 đồng để mua điểm đánh bạc. Khi đánh bạc, M đổi điểm để lấy 500.000 đồng. Như vậy, số tiền đánh bạc của M là 2.800.000đ. Số tiền là 500.000 đồng bị thu giữ tại vị trí chỗ ngồi trên máy bắn cá là tiền đánh bạc. Khi bị bắt quả tang, do sợ hãi nên M khai tên là Nguyễn Văn Tuấn, sinh năm 1994 ở S, Nội Hoàng, Yên D, nhưng thực chất tên là Trần Văn M ở thôn Đ, S, thành phố B (Bl 106-110).

Đoàn Tuấn V khai: Trước khi đánh bạc, V có tổng số tiền là 610.000 đồng.

Dùng 100.000đ để đánh bạc, bị thua bạc. Trong khi đánh bạc, Q đưa cho V số tiền 1.000.000 đồng nhờ V cầm hộ. Số tiền 1.510.000 đồng bị thu giữ có 1.000.000 đồng tiền của Q, còn lại 510.000 đồng không sử dụng để đánh bạc (Bl 123-127);

Hoàng Công Tr khai: Tr chỉ mua điểm từ Th với số tiền 100.000đ để chơi

giải trí. Bản thân Tr không đổi điểm để lấy tiền. Chiếc điện thoại của bị thu giữ không sử dụng gì vào việc đánh bạc (Bl 132-138);

Như vậy, số tiền mà Th sử đánh bạc trong ngày 14/01/2020 được xác định là

12.900.000đ.

Trong vụ án này, các đối tượng tham gia đánh bạc (mua đổi điểm từ việc chơi

bắn cá) với Th ngày 14/01/2020 gồm: Vũ Văn D, Trần Văn M, Nguyễn Văn Q và Nguyễn Văn Th2. Tuy nhiên, số tiền của từng đối tượng đánh bạc với Th đều dưới 5 triệu đồng, bản thân Vũ Văn D, Trần Văn M, Nguyễn Văn Q và Nguyễn Văn Th2 đều không có tiền án, tiền sự về hành vi đánh bạc, gá bạc, tổ chức đánh bạc. Ngày 17/3/2020, Công an huyện Y đã ra Quyết định xử phạt hành chính các đối tượng trên về hành vi “Đánh bạc”.

Ngoài ra còn có đối tượng tự khai là Đoàn Tuấn V, sau khi lấy lời khai xong,

lợi dụng sơ hở V đã bỏ trốn. Cơ quan điều tra đã xác M tại địa phương nơi V khai nhưng không có đối tượng nào có tên và địa chỉ như V khai nên không có căn cứ để xử lý.

Đối với Hoàng Công Tr, quá Tr điều tra xác định, Tr chỉ dùng số tiền 100.000đ

để mua điểm từ Th để chơi giải trí, Tr không tham gia đánh bạc cá cược gì với Th thông qua trò chơi máy bắn cá. Ngoài lời khai không có chứng cứ khác, nên không có căn cứ xử lý Tr về hành vi “Đánh bạc”.

Đối với vật chứng và tài sản thu giữ, quá Tr điều tra, xác định:

03 chiếc máy bắn cá, 03 thẻ màu xanh và 01 xe mô tô biển kiểm soát 98M9-

1723 thu giữ khi khám xét là của anh Thân Văn Th, không liên quan đến việc đánh bạc. Chiếc xe mô tô biển kiểm soát 29F6-5096 là của ông Trần Thanh B, sinh năm 1972, ở thôn Đ, thị trấn N, huyện Y gửi Th không liên quan đến hành vi đánh bạc. Ngày 17/3/2020, Cơ quan điều tra Công an huyện Y đã trả lại anh Th và ông B số tài sản trên. Anh Th và ông B đã nhận lại tài sản và không yêu cầu, đề nghị gì.

Cùng ngày 17/3/2020, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y trả: Vũ

Văn D, xe mô tô biển kiểm soát 98B1- 271.47; 01 điện thoại di động nhãn hiệu SamSung màu tím - đen và số tiền 6.450.000 đồng. Trả Hoàng Công Tr 01 điện thoại di động nhãn hiệu Viettel, màu xám; Trả Nguyễn Văn Q 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel, màu xanh, đen và số tiền 500.000 đồng; Trả Nguyễn Văn Th2 01 xe mô tô biển kiểm soát 98B3 - 269.39 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Viettel, màu xám; Trả Nguyễn Văn Th 01 đầu thu Camera nhãn hiệu @Jhua màu đen; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu vàng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu trắng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu đồng; 01 điện thoại di động nhãn Iphone màu đồng; 01 điện thoại di động nhãn OPPO màu đỏ ; 01 điện thoại di động nhãn nhãn hiệu Mi, màu vàng và 01 ví da.

Tang vật của vụ án gồm: 01 máy bắn cá màu vàng có 08 vị trí ngồi chơi, 01 thẻ

nhựa màu xanh ( hay còn gọi là thẻ từ); 06 chiếc ghế nhựa màu đỏ; 01 bình xịt vỏ bằng kim loại màu đen trên thân bình có ghi ký hiệu TAKE DOWN 005.5F0GGER.MX - IX; 01 thanh ống nước bằng thép phần đầu có hàn lưỡi dao nhọn có tổng chiều dài 1,78 mét; 01 thanh kiếm vỏ nhựa màu đen, chiều dài từ phần chuôi đến đầu là 1 mét và số tiền 13.410.000đ được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Y để giải quyết theo quy định;

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn Th đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm

tội của mình như đã nêu trên.

Bản Cáo trạng số 21/CT-VKSYD ngày 17 tháng 4 năm 2020, Viện kiểm sát

nhân dân huyện Y đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn Th về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng

VKSND huyện Y đã truy tố là đúng. Bị cáo thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình gây ra.

Hội đồng xét xử công bố lời khai của những người có quyền lợi và nghĩa vụ

liên quan, người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa, có trong hồ sơ vụ án, bị cáo không có ý kiến gì.

Tại phiên tòa, sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân

của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Y giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Th phạm tội “Đánh bạc”.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật

Hình sự:

1. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn Th 10 tháng đến 12 tháng tù nhưng cho

hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 20 tháng đến 24 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo cho Uỷ ban nhân dân thị trấn N, huyện Y, tỉnh Bắc Giang giám

sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật

Tố tụng hình sự:

-Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 13.410.000đ; 01 máy bắn cá màu

vàng có 08 vị trí ngồi chơi cùng 01 thẻ xanh (thẻ từ).

-Tịch thu tiêu hủy: 06 chiếc ghế nhựa màu đỏ; 01 bình xịt vỏ bằng kim loại

màu đen trên thân bình có ghi ký hiệu TAKE DOWN 005.5F0GGER.MX – IX; 01 thanh ống nước bằng thép phần đầu có hàn lưỡi dao nhọn có tổng chiều dài 1,78 mét; 01 thanh kiếm vỏ nhựa màu đen, chiều dài từ phần chuôi đến đầu là 1 mét;

3.Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 BLTTHS; nghị quyết

326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Th2 vụ Quốc hội. Bị cáo Th được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận và nói lời nói sau cùng: Bị cáo đã nhận thức

được lỗi, hứa không bao giờ tái phạm và xin được cải tạo tại địa phương.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được

tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Xét về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Y

và Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Y và Kiểm sát viên trong quá Tr điều tra, truy tố, xét xử thì thấy: Trong quá Tr điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát cũng như Điều tra viên và Kiểm sát viên thực hiện đúng về thẩm quyền, Tr tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá Tr điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy Hội đồng xét xử xác định các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án là hợp pháp.

Về tội danh: Căn cứ lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù

hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và biên bản bắt người phạm tội quả tang đã có đủ cơ sở kết luận: Hồi 15 giờ 50 phút ngày 14/01/2020, tại tại quán “Trò chơi Game giải trí” thuộc Tiểu khu Z, thị trấn N (nay là thị trấn Nh), huyện Y, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bắc Giang phối hợp với Công an huyện Y bắt quả tang Nguyễn Văn Th đang có hành vi đánh bạc trái phép dưới hình thức chơi game bắn cá (cá cược điểm trên máy trò chơi bắn cá) với các đối tượng: Trần Văn M, Nguyễn Văn Q, Vũ Văn D, Nguyễn Văn Th2 và đối tượng tự khai tên Đoàn Tuấn V. Tang vật thu giữ gồm: Thu tại nơi đánh bạc số tiền 6.000.000 đồng; 01 máy bắn cá màu vàng có 08 vị trí ngồi chơi; 06 chiếc ghế nhựa màu đỏ và 04 thẻ nhựa màu xanh, thu trên người các đối tượng và Th số tiền là 7.400.000đ là tiền đánh bạc. Vậy, tổng số tiền đánh bạc ngày 14/01/2020 của Nguyễn Văn Th là 12.900.000 đồng, bao gồm 5.500.000đ thu trên chiếu bạc các đối tượng dùng để đánh bạc và 7.400.000đ thu trên người các đối tượng và Th dùng để đánh bạc. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Y truy tố bị cáo theo tội danh và Điều khoản trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

Tại phiên tòa hôm nay những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người

làm chứng đều vắng mặt, Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điều 292, Điều 293 xét xử vắng mặt họ.

. Về tính chất hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Hành vi phạm tội của

bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân, thể hiện sự coi Th2 pháp luật của Nhà nước. Do vậy, hành vi của bị cáo cần phải nghiêm trị bằng hình luật, cần lên một mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra để răn đe và phòng ngừa chung.

Xét về nhân thân của bị cáo thì thấy: Bị cáo đều có nhân thân tốt, chưa có

tiền án, tiền sự.

Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: Bị cáo

phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, trong quá Tr điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thì thấy: Bị cáo không phải

chịu tình tiết tăng nặng nào quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Xét về hình phạt bổ sung thì thấy: Bị cáo thuộc diện hộ cận nghèo nên

không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Bị cáo Th được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s

khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, bị cáo có nhân thân tốt, xuất thân từ thành phần nhân dân lao động, có nơi cư trú ổn định. Ngoài lần phạm tội này, bị cáo cũng không có vi phạm nào khác. Do vậy Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết buộc phải cách ly bị cáo khỏi xã hội mà cho cải tạo tại địa phương có thời gian thử thách cũng đủ giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt.

Đối với các đối tượng cùng tham gia đánh bạc với Nguyễn Văn Th là Vũ

Văn D, Trần Văn M, Nguyễn Văn Q và Nguyễn Văn Th2: Số tiền của từng đối tượng này đánh bạc với Th đều dưới 5 triệu đồng, bản thân Vũ Văn D, Trần Văn M, Nguyễn Văn Q và Nguyễn Văn Th2 đều không có tiền án, tiền sự về hành vi đánh bạc, gá bạc, tổ chức đánh bạc. Ngày 17/3/2020, Công an huyện Y đã ra Quyết định xử phạt hành chính các đối tượng trên về hành vi “Đánh bạc” là đúng quy định.

Đối với đối tượng tự khai là Đoàn Tuấn V, sau khi lấy lời khai xong, lợi dụng

sơ hở V đã bỏ trốn. Cơ quan điều tra đã xác M tại địa phương nơi V khai nhưng không có đối tượng nào có tên và địa chỉ như V khai nên không có căn cứ để xử lý.

Đối với Hoàng Công Tr, quá Tr điều tra xác định, Tr chỉ dùng số tiền 100.000đ

để mua điểm từ Th để chơi giải trí, Tr không tham gia đánh bạc cá cược gì với Th thông qua trò chơi máy bắn cá. Ngoài lời khai không có chứng cứ khác, nên Cơ quan điều tra Công an huyện Y không có căn cứ xử lý Tr về hành vi “Đánh bạc” là đúng quy định.

Đối với 03 chiếc máy bắn cá, 3 Thẻ nhựa màu xanh và 01 xe mô tô biển kiểm

soát 98M9-1723 thu giữ khi khám xét là của anh Thân Văn Th, không liên quan đến việc đánh bạc. Chiếc xe mô tô biển kiểm soát 29F6-5096 là của ông Trần Thanh B, sinh năm 1972, ở thôn Đ, thị trấn N, huyện Y gửi Th không liên quan đến hành vi đánh bạc. Ngày 17/3/2020, Cơ quan điều tra Công an huyện Y đã trả lại anh Th và ông B số tài sản trên. Anh Th và ông B đã nhận lại tài sản và không yêu cầu, đề nghị gì.

Ngày 17/3/2020, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y trả: Vũ Văn D,

xe mô tô biển kiểm soát 98B1- 271.47; 01 điện thoại di động nhãn hiệu SamSung màu tím - đen và số tiền 6.450.000 đồng. Trả Hoàng Công Tr 01 điện thoại di động nhãn hiệu Viettel, màu xám; Trả Nguyễn Văn Q 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel, màu xanh, đen và số tiền 500.000 đồng; Trả Nguyễn Văn Th2 01 xe mô tô biển kiểm soát 98B3 - 269.39 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Viettel, màu xám; Trả Nguyễn Văn Th 01 đầu thu Camera nhãn hiệu @Jhua màu đen; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu vàng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu trắng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu đồng; 01 điện thoại di động nhãn Iphone màu đồng; 01 điện thoại di động nhãn OPPO màu đỏ và 01 điện thoại di động nhãn nhãn hiệu Mi, màu vàng; 01 ví da vì không sử dụng vào việc đánh bạc là đúng quy định.

Về vật chứng của vụ án:

- Đối với 01 máy bắn cá màu vàng có 08 vị trí ngồi chơi, 1 thẻ màu xanh (hay

còn gọi là thẻ từ), đây là phương tiện, công cụ để bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nhưng có giá trị sử dụng nên cần tịch thu sung Ngân sách Nhà nước là phù hợp với qui định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Đối với số tiền 13.410.000đ , trong đó xác định 12.900.000 là tiền bị cáo dùng

để đánh bạc vì vậy cần tịch thu sung Ngân sách Nhà nước là phù hợp với qui định tại điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự ; còn lại số tiền 510.000 đồng là của đối tượng khai tên là Đoàn Tuấn V, ở Thôn S, xã K, thành phố B khi bị bắt khai là số tiền này không dùng để đánh bạc, tuy nhiên đối tượng đã bỏ trốn và qua xác M tại địa phương không có đối tượng nào có tên và địa chỉ như V khai. Nên số tiền 510.000 đồng này cần tịch thu sung quỹ nhà nước theo quy định.

Đối với 06 chiếc ghế nhựa màu đỏ đây là phương tiện, công cụ để bị cáo sử

dụng vào việc phạm tội, do vậy cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp với qui định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Đối với 01 bình xịt vỏ bằng kim loại màu đen trên thân bình có ghi ký hiệu

TAKE DOWN 005.5F0GGER.MX - IX; 01 thanh ống nước bằng thép phần đầu có hàn lưỡi dao nhọn có tổng chiều dài 1,78 mét; 01 thanh kiếm vỏ nhựa màu đen, chiều dài từ phần chuôi đến đầu là 1 mét. Th khai đây là đồ vật, tài sản do khách đến quán chơi trò chơi điện tử giải trí bắn cá bỏ lại quán, không rõ thời gian cụ thể, không phải của Th, không xác định được chủ sở hữu và không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định.

Về án phí: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Th phạm tội “Đánh bạc”.

2.Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật

Hình sự:

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn Th 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời

gian thử thách 20 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo cho Uỷ ban nhân dân thị trấn N, huyện Y, tỉnh Bắc Giang giám

sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ

02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì áp dụng theo

quy định tại khoản 2 Điều 92 Luật thi hành án hình sự năm 2019.

3. Về vật chứng: Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm

a, b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

3.1. Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 máy bắn cá màu vàng có 08 vị trí

ngồi chơi, 01 thẻ màu xanh (hay còn gọi là thẻ từ), tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 13.410.000 đồng.

3.2. Tịch thu tiêu hủy: 06 chiếc ghế nhựa màu đỏ; 01 bình xịt vỏ bằng kim loại

màu đen trên thân bình có ghi ký hiệu TAKE DOWN 005.5F0GGER.MX – IX; 01 thanh ống nước bằng thép phần đầu có hàn lưỡi dao nhọn có tổng chiều dài 1,78 mét; 01 thanh kiếm vỏ nhựa màu đen, chiều dài từ phần chuôi đến đầu là 1 mét;

4. Về án phí: Căn cứ điểm d khoản 1 điều 12 Nghị quyết

326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Th2 vụ Quốc hội. Bị cáo Th được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án theo quy định pháp luật.

Cỡ chữ