- Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo Vũ Ngọc P, Nguyễn Thị Bích L đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự…"
- Tòa quyết gì? Xử pha ̣t bi ̣ cáo Vũ Ngọc P (tên gọi khác: Lục Tiểu P) 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tô ̣i “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt 01 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù tại Bản án số 07/2020/HS-ST ngày 12/3/2020 của Tòa án nhân dân huyê ̣n Va ̣n Ninh , tỉnh Khánh Hòa về tội “Trộm c…
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VẠN NINH TỈNH KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 24/2020/HS-ST Ngày: 24/6/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨAVIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VẠN NINH - TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Ông Vi Nhật Hoàng
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Hồng
Bà Phạm Thị Loan
- Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Hoa - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Phạm Duy Cường - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 6 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 13/2020/TLST-HS ngày 09 tháng 3 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2020/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 4 năm 2020; thông báo thay đổi thờ i gian mở phiên tòa số 05/2020/TB-TA ngày06 tháng 5 năm 2020; thông báo thay đổi thờ i gian mở phiên tòa số 07/2020/TB-TA ngày 05 tháng 6 năm 2020 đối với các bị cáo:
1. Vũ Ngọc P (tên gọi khác: Lục Tiểu P) - sinh năm: 1994, tại: huyê ̣n Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa. Nơi cư trú: Thôn L, xã L, huyê ̣n V, tỉnh Khánh Hòa ; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 8/12 dân tô ̣c: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vũ Văn Y (chết) và bà Lê Thị H (sinh năm 1974); tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 12/3/2020 bị Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh xử 01 năm 06 (sáu) tháng về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 07/2020/HS-ST ngày 12/3/2020. Hiện bị cáo đang bị tạm giam để thi hành án của Bản án này.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2. Nguyễn Thị Bích L - sinh năm: 1994, tại: Gia Lai. Nơi cư trú: 29/44 đườ ng S, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 02/12 dân tô ̣c: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thành S (chết) và bà Phạm Thị Bích T (chết); tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại:
1. Anh Đào Văn T - sinh năm 1990; trú tại: Thôn C, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình. (Vắng mặt)
2. Ông Đào Khánh H - sinh năm 1991; trú tại: số 256 đường H, phường Q, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa. (Vắng mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Lưu Thị Khánh T - sinh năm 1993; trú tại: 29/44 đườ ng S , phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. (Vắng mặt)
- Người làm chứng:
1. Bà Trần Thị M - sinh năm 1974; Trú tại: Thôn H, xã K, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. (Vắng mặt)
2. Anh Võ Thanh B - sinh năm 1994; Trú tại: Thôn T 2, xã B, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 06 giờ 00 phút ngày 04/11/2019, Vũ Ngọc P điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 79L8-6692 chở Nguyễn Thị Bích L đi từ nhà L ở phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa lưu thông trên Quốc lộ IA đến nhà P ở thôn L, xã L, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Khi đi đến thị trấn G, huyện V thì P nói với L “Trên đường đi gặp chiếc xe ô tô tải nào dừng trên đường, anh dừng xe, em giữ xe mô tô còn anh lên xe ô tô tải trộm cắp tiền rồi mình vô mướn nhà trọ ở”, L trả lời “Ừ, biết rồi”; tuy nhiên, trên đường đi cả hai không gặp xe ô tô nào. Đến khoảng 10 giờ 00 phút cùng ngày, P tiếp tục điều khiển xe mô tô 79L8-6692 chở L đi từ thôn L, xã L vào lại thị trấn G để tìm tài sản trộm cắp, do không gặp xe ô tô nào dừng trên đường nên cả hai quay về lại xã L. Khoảng 11 giờ 45 phút cùng ngày, khi đi đến khu vực thôn H, xã K thì cả hai phát hiện xe ô tô tải 29C-401.41 đang dừng trên lề đường phải của Quốc lộ IA (hướng Nam-Bắc), bên phải thân xe có anh Đào Khánh H và anh Đào Văn T (là phụ xe và lái xe) đang chằng buộc bạc che cho xe nên P điều khiển xe mô tô 79L8-6692 dừng trước bên trái đầu xe ô tô, L ngồi trên xe mô tô cảnh giới còn P đi bộ đến và mở cửa ca bin bên trái xe ô tô 29C-401.41, đột nhập vào trong và trộm cắp 01 điện thoại di động hiệu SAMSUNG GALAXY A7 màu vàng đồng, bên trong có gắn 01 sim mạng Viettel của anh Đào Văn T và 01 điện thoại di động hiệu IPHONE 6 màu vàng, bên trong gắn 01 sim Viettel của anh Đào Khánh H đang để trên ghế giữa ca bin.
Lúc này, anh T và H phát hiện thì P cầm 02 điện thoại này chạy sang bên kia đường của Quốc lộ IA, rồi chạy vào đường bê tông thuộc thôn H, xã K; T cùng H đuổi theo và tri hô. Trên đường chạy thoát, P vứt lại 02 điện thoại vừa trộm cắp xuống đường làm điện thoại di động hiệu IPHONE 6 bị vỡ màn hình, rồi chạy vào đám lau sậy ẩn nấp, sau đó P bị T, H cùng người dân xung quanh phát hiện và bắt giữ. Lúc này, Nguyễn Thị Bích L chạy xe mô tô 79L8-6692 đến và xin mọi người tha cho P nhưng không được. Sự việc sau đó được trình báo cho Cơ quan Công an, toàn bộ tang vật bị thu giữ.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 72/2019/KL-TTHS ngày 11/11/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Vạn Ninh, kết luận: 01 điện thoại di động hiệu SAMSUNG GALAXY A7 và 01 điện thoại di động hiệu IPHONE 6, cùng 02 Sim mạng Viettel có tổng giá trị là 7.470.000đ (Bảy triệu bốn trăm bảy mươi nghìn đồng)
- Anh Đào Văn T và Đào Khánh H đã nhận lại 02 điện thoại di động hiệu SAMSUNG GALAXY A7 và hiệu hiệu IPHONE 6 cùng 02 Sim mạng Viettel. Anh Tuấn và anh Hòa không còn yêu cầu gì.
- Xe mô tô biển kiểm soát 79L8-6692 đã trả lại cho chủ hợp pháp là chị Lưu Thị Khánh T; chị T không có yêu cầu gì.
Tại bản Cáo trạng số 17/CT-VKSVN ngày 05 tháng 3 năm 2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa đã truy tố để xét xử Vũ Ngọc Phụng, Nguyễn Thị Bích L về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa:
- Các bị cáo Vũ Ngọc P, Nguyễn Thị Bích L đã khai nhận hành vi của mình như đã nêu trên.
- Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo Vũ Ngọc P, Nguyễn Thị Bích L theo tội danh, khung hình phạt như trên và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51, Điều 56 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Vũ Ngọc P; áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Thị Bích L. Tuyên phạt bị cáo Vũ Ngọc P từ 01 (mô ̣t) năm 3 (ba) tháng đến 01 (mô ̣t) năm 6 (sáu) tháng tù; bị cáo Nguyễn Thị Bích L từ 09 (chín) tháng đến 01 (mô ̣t) năm tù.
+ Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa các anh Đào Văn T, anh Đào Khánh H, chị Lưu Thị Khánh T đều vắng mặt tuy nhiên căn cứ lời khai của anh Tuấn, anh Hòa, chị Trâm có trong hồ sơ vụ án thể hiện anh T, anh H, chị T không yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự nên đề nghị không xem xét.
+ Về vật chứng vụ án: 02 (hai) điện thoại di động hiệu SAMSUNG GALAXY A7 và hiệu IPHONE 6 cùng 02 Sim mạng Viettel đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Đào Văn T và anh Đào Khánh H.
Xe mô tô 79L8-6692 đã trả lại cho chủ hợp pháp là chị Lưu Thị Khánh T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Vạn Ninh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị hại anh Đào Văn T, anh Đào Khánh H; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Lưu Thị Khánh T và những người làm chứng đều vắng mặt, nhưng đã có lời khai tại hồ sơ. Căn cứ Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định tiếp tục xét xử vắng mặt những người tham gia tố tụng trên.
Về chứng cứ xác định có tội:
Tại phiên tòa, các bị cáo Vũ Ngọc P, Nguyễn Thị Bích L đã khai nhâ ̣n hành vi thực hiện việc trộm cắp của mình đúng như nô ̣i dung bản Cáo tra ̣ng số 17/CT-VKSVN ngày 05 tháng 3 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa đã nêu. Lờ i khai của các bị cáo phù hợp vớ i lời khai của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người làm chứng; phù hợp với vật chứng thu giữ được và các chứ ng cứ khác có ta ̣i hồ sơ vu ̣ án . Như vậy, đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 11 giờ 45 phút ngày 04/11/2019, tại Quốc lộ IA thuộc địa phận thôn H, xã K, huyện V, tỉnh Khánh Hòa; Vũ Ngọc P và Nguyễn Thị Bích L đã có hành vi lén lút trộm cắp 01 điện thoại di động hiệu SAMSUNG GALAXY A7, màu vàng đồng, bên trong có gắn 01 Sim mạng Viettel của anh Đào Văn T và 01 điện thoại di động hiệu IPHONE 6, màu vàng, bên trong có gắn 01 Sim mạng Viettel của anh Đào Khánh H. Tổng tài sản có giá trị là 7.470.000 đồng (Bảy triệu bốn trăm bảy mươi nghìn đồng).
Theo quy định tại Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
…”
Như vậy, hành vi của các bị cáo Vũ Ngọc P, Nguyễn Thị Bích L đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa truy tố bị cáo P, bị cáo L theo tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật, các bị cáo không bị oan sai.
Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Đây là vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn, các bị cáo có vai trò như nhau trong việc thực hiện hành vi phạm tội. Chỉ vì thỏa mãn nhu cầu cá nhân, các bị cáo đã lén lút trộm cắp tài sản của người khác. Hành vi của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu đối với tài sản của người khác, gây ảnh hưởng đến trật tự trị an của xã hội ở địa phương.
Xét vai trò của từng bị cáo:
Đối với b ị cáo Vũ Ngọc P là người khởi xướng, rủ rê bị cáo Lộc tìm tài sản để trộm cắp và là người thực hành tích cực , trực tiếp thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Bị cáo P còn có nhân thân xấu, đã bị Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh xử phạt 01 (mô ̣t) năm 6 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 07/2020/HS-ST ngày 12/3/2020; trong thời gian bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyê ̣n Va ̣n Ninh khởi tố về hành vi “Trộm cắp tài sản” tại Bản án trên, bị cáo lại tiếp tục có hành vi trộm cắp tài sản của người khác, chứng tỏ bị cáo là đối tượng coi thường pháp luật.
Đối với bị cáo Nguyễn Thị Bích L có vai trò đồng phạm , là người giúp sức tích cực, đứng cảnh giới cho bị cáo P thực hiện hành vi trộm cắp tài sản.
Từ các phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy phải áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, cần thiết cách ly các bị cáo một thời gian để cải tạo, giáo dục các bị cáo, cũng như phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội và mức hình phạt bị cáo Vũ Ngo ̣c P phải cao hơn bị cáo Nguyễn Thi ̣ Bich L mới hợp lý.
́
Tuy nhiên, xét thấy các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn, tài sản trộm cắp đã được thu hồi trả cho người bị hại; ngoài ra bị cáo L lần đầu phạm tội thuô ̣c trườ ng hợp it nghiêm tro ̣ng. Nên
́ cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối vớ i bị cáo P; áp dụng điểm h,i,s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối vớ i bi ̣ cáo L để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo để các bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo, trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội.
Trong vụ án này các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 điều 52 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017.
Ý kiến luận tội của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, điều khoản truy tố, mức hình phạt và tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo là có căn cứ, phù hợp với pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về trách nhiệm dân sự:
- Anh Đào Văn T đã nhận lại điện thoại di động hiệu SAMSUNG GALAXY A7 và sim điê ̣n thoa ̣i mạng Viettel có số thuê bao 0397.622.544 02, anh Đào Khánh H đa nhận lại điện thoại di động hiệu IPHONE 6 cùng sim điê ̣̃
n thoại mạng Viettel có số thuê bao 0979.812.091. Anh T và anh H đều không yêu cầu các bị cáo bồi thường hoặc khiếu nại gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét
- Chị Lưu Thị Khánh T đã nhận lại xe mô tô 79L8-6692, chị T không yêu cầu các bị cáo bồi thường hoặc khiếu nại gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét
Về vật chứng vụ án:
Điện thoại di động hiệu SAMSUNG GALAXY A7 và sim điê ̣n thoa ̣i mạng Viettel có số thuê bao 0397.622.544 đa trả cho chủ sở hữu hợp pháp là̃ anh Đào Văn T ; Điện thoại di động hiệu IPHONE 6 cùng sim điê ̣n thoa ̣i mạng Viettel có số thuê bao 0979.812.091 đa trả cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Đã
̀o Khánh H.
Xe mô tô nhãn hiệu LUXARY, màu đỏ - đen, biển kiểm soát 79L8-6692, số máy FMH-106140, số khung N5H004140 đa trã ̉ la ̣i cho chủ sở hữu hợp p háp là chị Lưu Thị Khánh T.
Về án phi : Bị cáo Vũ Ngọc P, bị cáo Nguyễn Thị Bích L mỗi bị cáo
́ phải chịu án phi hinh sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật
, với số tiền là
́ ̀ 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51, Điều 56 của Bộ luật Hình sự đối với Vũ Ngọc P;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm h,i,s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với Nguyễn Thị Bích L;
Căn cứ khoản 2 Điều 136, Điều 292, Điều 293, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
- Xử pha ̣t bi ̣ cáo Vũ Ngọc P (tên gọi khác: Lục Tiểu P) 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tô ̣i “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt 01 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù tại Bản án số 07/2020/HS-ST ngày 12/3/2020 của Tòa án nhân dân huyê ̣n Va ̣n Ninh , tỉnh Khánh Hòa về tội “Trộm cắp tài sản”. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án là 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo thi hành án của Bản án số 07/2020/HS-ST ngày 12/3/2020 của Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh là ngày 27/12/2019.
- Xử pha ̣t bi ̣ cáo Nguyễn Thị Bích L 09 (chín) tháng tù về tội “ Trộm cắp tài sản”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành.
- Về trách nhiê ̣m dân sự:
Không xét về viê ̣c bồi thườ ng thiê ̣t ha ̣i giữa các bị cáo
Vũ Ngọc P , Nguyễn Thi ̣ Bich L với bị hại Đào Văn T, Đào Khánh H.
́
Không xét về viê ̣ c bồi thườ ng thiê ̣t ha ̣i giữa các bị cáo
Vũ Ngọc P , Nguyễn Thi ̣ Bich L vớ i người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Lưu Thị
́ Khánh T.
- Về án phí: Các bị cáo Vũ Ngọc P, bị cáo Nguyễn Thị Bích L mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).
- Quyền kháng cáo của các bị cáo là 15 ngày kể từ ngày tuyên án; quyền kháng cáo của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (vắng mặt) là 15 ngày, kể từ bản án được giao hoặc được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Khánh Hòa (Phòng KTNV và THA); - VKSND tỉnh Khánh Hòa; - Sở Tư pháp tỉnh Khánh Hòa; - VKSND huyện Vạn Ninh; - Công an huyện Vạn Ninh; - Chi cục THA dân sự huyện Vạn Ninh; - Các bị cáo; - Bị hại; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - Hồ sơ THA; - Lưu: VT, AV. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Vi Nhật Hoàng |