vanban.org

Bản án 24/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh Tuyên án 30/07/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Thạch S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Thạch S 03 (ba) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11/3/2020.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của BLTTHS. Tịch thu tiêu hủy tinh thể rắn trong suốt chứa trong 02 (hai) gói ny lon hàn kín, được niêm phong là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng còn lại sau giám định là 1,3960 gam và 01 (một) hộp nhựa nhỏ, màu xanh;

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "tàng trữ trái phép chất ma túy đối với bị cáo Thạch S - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Thạch S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Thạch S 03 (ba) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11/3/2020.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TIỂU CẦN
TỈNH TRÀ VINH
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2020/HS-ST
Ngày 30-7-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỂU CẦN, TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Thạch Thị Thu Hiền

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Bé

Bà Trang Thị Cẩm Nhuần

- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Thanh Quyên – Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Sơn Nhựt Nhân – Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 7 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 28/2020/TLST-HS ngày 19 tháng 6 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2020/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 7 năm 2020 đối với bị cáo: Thạch S, sinh năm 1989 tại huyện T, tỉnh T. Nơi cư trú ấp Đại T, xã Phú C, huyện T, tỉnh T; Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hoá: 06/12; Dân tộc: khmer; Giới tính: Nam; Tôn giáo: phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Thạch S, sinh năm 1943 và bà Thạch Thị S, sinh năm 1943 (đã chết) ; Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án: 01 tiền án ngày 25/7/2013 bị TAND huyện Tiểu Cần tuyên phạt 03 năm tù về tội giao với trẻ em, chấp hành xong ngày 29/10/2015 nhưng chưa được xóa án tích; Tiền sự: 01 tiền sự vào ngày 06/7/2018 bị TAND huyện Tiểu Cần quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc (chấp hành xong ngày 28/8/2019) ; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ từ ngày 11/3/2020 đến ngày 14/3/2020 chuyển tạm giam cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện Tiểu Cần.. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Công H, trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà Nước tỉnh T (có mặt).

- Người làm chứng:

1. Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1988; Nơi cư trú: ấp An C, xã T, huyện T, tỉnh T (vắng mặt không có lý do).

2. Ông Lê Văn Huy L, sinh năm 1985; Địa chỉ: ấp T, xã L, huyện T, tỉnh T (vắng mặt không có lý do).

3. Ông Lê Bảo T, sinh năm 1986; Địa chỉ: ấp Ô , xã P, huyện T, tỉnh T (vắng mặt không có lý do).

4. Ông Trần Ngọc Q, sinh năm 1964; Địa chỉ: k, thị trấn T, huyện T, tỉnh T (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Người phiên dịch: Ông Kim Trường Mu N - Ban nhân dân ấp Cây H, xã P, huyện T, tỉnh T.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 04 giờ ngày 11/3/2020, khi bị cáo Thạch S đang ở nhà thì P (không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể) ngụ huyện Cù Lao D, tỉnh S điều khiển xe mô tô (không rõ biển số) đến nhà bị cáo S rủ S đi thành phố H để bán gà (gà chọi). Đến khoảng 08 giờ cùng ngày, bị cáo S và P đi đến khu vực Chợ Hưng L, thuộc xã Hưng L, huyện Bình Ch, thành phố H thì tình cờ gặp một người tên B (không rõ họ tên cụ thể) nên bị cáo S, P và B ngồi nói chuyện chơi, trong lúc nói chuyện B lấy ma túy đá ra sử dụng cùng với S và P. Sau đó B hỏi bị cáo S lấy ma túy không thì bị cáo S nói lấy, nhưng bị cáo S nói chỉ lấy 300.000 đồng đến 400.000 đồng thôi, một lúc sau B đưa cho bị cáo S 02 gói ma túy đá với giá 900.000 đồng, nhưng Thạch S chỉ đưa 480.000 đồng, số tiền còn lại B cho bị cáo S thiếu. Sau khi mua ma túy xong, Thạch S cất giấu 02 gói ma túy trên trong hộp nhựa màu xanh để vào túi quần jean bên phải và điều khiển xe mô tô trên cùng với P đi bán gà, sau khi bán gà xong S và P quay về huyện T, tỉnh T.

Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, Thạch S về đến nhà thuộc ấp Đ, xã P, huyện T, tỉnh T, còn P thì đi chơi ở huyện Cầu K, tỉnh T. Khoảng 20 giờ cùng ngày, Thạch S điều khiển xe mô tô biển số 84F7-8896 đi đến ấp Trinh P, xã Long T, huyện T, tỉnh T để mời đám giỗ thì bị lực lượng Công an kiểm tra và bắt quả tang Thạch S đang cất giấu 02 gói nylong trong suốt, được hàn kín 02 đầu, bên trong chứa nhiều hạt tinh thể rắn trong suốt, nghi là ma túy đá được S để trong túi quần jean bên phải đang mặc, cơ quan công an thu giữ và niêm phong 02 gói nylon trên.

Tại kết luận giám định số 80/KLGĐ, ngày 13/3/2020 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Trà Vinh kết luận: Mẫu tinh thể rắn trong suốt chứa trong 02 (hai) gói nylon hàn kín được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có tổng khối lượng 1,4613 gam.

Đối với đối tượng tên B và P có hành vi mua bán và sử dụng trái phép chất ma túy, cơ quan điều tra đã xác minh nhưng không xác định được họ tên, địa chỉ cụ thể nên chưa đủ cơ sở để xử lý, cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, nếu đủ cơ sở sẽ xử lý sau.

* Vật chứng:

+ Tinh thể rắn trong suốt chứa trong 02 (hai) gói ny lon hàn kín, được niêm phong là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng còn lại sau giám định là 1,3960 gam;

+ 01 (một) xe mô tô hiệu WORLD, kiểu Dream màu nho, biển số 84F7 – 8896;

+ 01 (một) hộp nhựa nhỏ, màu xanh;

+ Tiền Việt Nam: 4.380.000 đồng (Bốn triệu, ba trăm tám mươi nghìn đồng).

Tại bản cáo trạng số 28/CT-VKS-HS ngày 19 tháng 6 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh đã truy tố bị cáo Thạch S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiểu Cần vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như cáo trạng đã nêu, sau khi phân tích các chứng cứ buộc tội, tính chất mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đối với bị cáo như sau:

Về trách nhiệm hình sự: đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 và Điều 50 Bộ luật hình sự tuyên bố bị cáo Thạch S phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy và xử phạt bị cáo từ 02 (hai) -03 (ba) năm tù thời hạn tù được tính kể từ ngày 11/3/2020.

Về hình phạt bổ sung: đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 5 điều 249 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu huỷ Tinh thể rắn trong suốt chứa trong 02 (hai) gói ny lon hàn kín, được niêm phong là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng còn lại sau giám định là 1,3960 gam và 01 (một) hộp nhựa nhỏ, màu xanh;

Tiếp tục giao thi hành án quản lý 01 (một) xe mô tô hiệu WORLD, kiểu Dream màu nho, biển số 84F7 – 8896 và Tiền Việt Nam: 4.380.000 đồng (Bốn triệu, ba trăm tám mươi nghìn đồng) để đảm bảo thi hành án.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội miễn án phí cho bị cáo Thạch S.

Tại phiên toà hôm nay, vị trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo Thạch S cũng thừa nhận bị cáo Thạch S có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy bị Viện kiểm sát truy tố về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là đúng, tuy nhiên với mức hình phạt mà vị đại diện viện kiểm sát đề nghị là cao so với quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đối với hình phạt bổ sung đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận theo lời đề nghị của vị đại diện viện kiểm sát bởi bị cáo thuộc diện hộ nghèo, quá trình lao động bị cáo bị tai nạn nghề nghiệp dẫn đến bị mất các ngón tay trái, hiện bị cáo đang sống chung với cha của bị cáo, cha bị cáo đã lớn tuổi không thể lao động để kiếm sống được mà chỉ nhờ vào bị cáo, các anh chị của bị cáo đều đã có gia đình riêng, mặc khác theo hồ sơ vụ án thì ở lần phạm tội trước, sau khi chấp hành xong hình phạt bị cáo cũng đã được Tòa án ra quyết định miễn thực hiện nghĩa vụ nộp ngân sách nhà nước. Đối với vật chứng đề nghị Hội đồng xét xử trả cho bị cáo 01 (một) xe mô tô hiệu WORLD, kiểu Dream màu nho, biển số 84F7 – 8896 và Tiền Việt Nam: 4.380.000 đồng (Bốn triệu, ba trăm tám mươi nghìn đồng), vì đây là tài sản riêng của bị cáo, không sử dụng vào mục đích phạm tội.

Về án phí: thống nhất theo ý kiến của Vị đại diện viện kiểm sát.

Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo thừa nhận hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo, do bị cáo không có nghề nghiệp, gia đình bị cáo thuộc diện hộ cận nghèo, hiện cha bị cáo đã lớn tuổi, mẹ vừa mới chết, các anh chị đều có gia đình và ở riêng chỉ có bị cáo ở chung với cha.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về thủ tục tố tụng: những người làm chứng đều vắng mặt tại phiên tòa tuy nhiên những người làm chứng này đã có lời khai rõ ràng tại cơ quan điều tra nên căn cứ vào Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt người làm chứng.

. Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử đã thẩm tra các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, thấy rằng các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, đều đúng quy định của pháp luật, những người tham gia tố tụng không có khiếu nại hoặc có ý kiến nào khác phản đối các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng nên các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 14 giờ ngày 11/3/2020, tại ấp T, xã Long T, huyện T, tỉnh T, Thạch S có hành vi cất giấu trái phép 1.4613 gam là ma túy, loại methamphetamine với mục đích sử dụng thì bị bắt quả tang. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ chất ma túy là vi phạm pháp luật, song vẫn cố ý thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, như quyết định truy tố của VKSND huyện Tiểu Cần là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý mà còn xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Mặc dù nhận thức được ma tuý không chỉ gây tác hại rất lớn về sức khỏe cho chính người sử dụng mà còn làm ảnh hưởng đến sự phát triển lành mạnh của các thế hệ sau này, là gánh nặng cho gia đình, xã hội và là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội khác, nhưng vì mục đích sử dụng cho bản thân để thoả mãn cơn nghiện và ý thức coi thường pháp luật, bị cáo vẫn tiếp tục dấn thân vào con đường phạm tội. Vì vậy, hành vi phạm tội của bị cáo cần phải xử lý nghiêm trước pháp luật.

Xét tính chất hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, điều kiện nhân thân của bị cáo, thấy rằng: Bị cáo có nhân thân không tốt có một tiền sự vào ngày 06/7/2018 bị TAND huyện Tiểu Cần quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc (chấp hành xong ngày 28/8/2019); 01 tiền án ngày 25/7/2013 bị TAND huyện Tiểu Cần tuyên phạt 03 năm tù về tội giao cấu với trẻ em, chấp hành xong ngày 29/10/2015 nhưng chưa được xóa án tích, mặc dù đã chấp hành xong hình phạt nhưng bị cáo không lấy đó là bài học cho bản thân, tích cực lao động, rèn luyện phấn đấu trở thành một công dân có ích cho gia đình và xã hội mà bị cáo lại tiếp tục phạm tội, chứng tỏ bị cáo vẫn coi thường kỷ cương, pháp luật nên lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Tuy nhiên khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét tình tiết giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo: quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51của Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử sẽ xem xét, giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt thể hiện tính khoan hồng của pháp luật, song dù có giảm nhẹ vẫn cần thiết buộc bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian để chấp hành hình phạt tù mới đủ tác dụng giáo dục riêng bị cáo và đấu tranh, phòng ngừa chung trong xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có nghề nghiệp ổn định, gia đình thuộc diện hộ cận nghèo nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

+ Đối với Tinh thể rắn trong suốt chứa trong 02 (hai) gói ny lon hàn kín, được niêm phong là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng còn lại sau giám định là 1,3960 gam là vật nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy;

+ Đối với 01 (một) hộp nhựa nhỏ, màu xanh là vật mà bị cáo dùng để đựng ma túy nên cần tịch thu tiêu hủy.

+ Đối với số Tiền Việt Nam: 4.380.000 đồng (Bốn triệu, ba trăm tám mươi nghìn đồng) và 01 (một) xe mô tô hiệu WORLD, kiểu Dream màu nho, biển số 84F7 – 8896 là tài sản riêng của bị cáo không sử dụng vào việc phạm tội nên trao trả lại cho bị cáo.

. Đối với đối tượng tên B và P có hành vi mua bán và sử dụng trái phép chất ma túy, cơ quan điều tra đã xác minh nhưng không xác định được họ tên, địa chỉ cụ thể nên chưa đủ cơ sở để xử lý, cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, nếu đủ cơ sở sẽ xử lý sau.

Về án phí: Bị cáo phạm tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên bị cáo S là cá nhân thuộc hộ cận nghèo nên đuợc miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thuờng vụ Quốc hội quy định về... án phí và lệ phí Toà án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

1. Tuyên bố: Bị cáo Thạch S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Thạch S 03 (ba) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11/3/2020.

2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của BLTTHS.

Tịch thu tiêu hủy tinh thể rắn trong suốt chứa trong 02 (hai) gói ny lon hàn kín, được niêm phong là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng còn lại sau giám định là 1,3960 gam và 01 (một) hộp nhựa nhỏ, màu xanh;

Trả cho bị cáo Tiền Việt Nam: 4.380.000 đồng (Bốn triệu, ba trăm tám mươi nghìn đồng) và 01 (một) xe mô tô hiệu WORLD, kiểu Dream màu nho, biển số 84F7 – 8896;

3. Về án phí: áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2020 của Ủy ban thường vụ quốc hội, miễn án phí hình sự cho bị cáo Thạch S.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 kể từ ngày tuyên án./. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM -TAND tỉnh Trà Vinh;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- Sở tư pháp tỉnh Trà Vinh;

- VKSND huyện Tiểu Cần;

- Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tiểu Cần;

Thạch Thị Thu Hiền

- Chi cục THADS huyện Tiểu Cần;

- Nhà tạm giữ Công an huyện Tiểu Cần;

- UBND xã Phú Cần;

- Bị cáo;

- Các đương sự;

- Lưu hồ sơ vụ án. Hướng dẫn sử dụng mẫu số 27-HS:

Mẫu bản án hình sự sơ thẩm kèm theo bản hướng dẫn này được soạn thảo theo tinh thần quy

định tại các điều 254, 260 và 423 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Mẫu bản án hình sự sơ thẩm kèm theo hướng dẫn này được sử dụng cho tất cả các Tòa án khi xét xử sơ thẩm vụ án hình sự. Sau đây là những hướng dẫn cụ thể về việc sử dụng mẫu bản án hình sự sơ thẩm kèm theo:

(1) và (4) nếu là Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh thì ghi tên Tòa án

nhân dân quận (huyện, thị xã, thành phố) gì thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nào (ví dụ: Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An); nếu là Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thì ghi tên Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (ví dụ: Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội); nếu là Tòa án quân sự khu vực thì ghi tên Tòa án quân sự khu vực gì thuộc quân khu, quân chủng nào; nếu là Tòa án quân sự quân khu, quân chủng thì ghi tên Tòa án quân sự quân khu, quân chủng (ví dụ: Tòa án quân sự Quân khu Thủ đô).

(2) ô thứ nhất ghi số Bản án, ô thứ hai ghi năm ra Bản án (ví dụ: 16/2017/HS-ST).

(3) ghi ngày, tháng, năm tuyên án không phân biệt vụ án được xét xử sơ thẩm và kết thúc trong một ngày hay được xét xử sơ thẩm trong nhiều ngày hoặc nghị án kéo dài.

(5) nếu Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm ba người, thì chỉ ghi đầy đủ họ tên của

Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, bỏ dòng Thẩm phán..., đối với Hội thẩm nhân dân (quân nhân) chỉ ghi đầy đủ họ tên của hai Hội thẩm nhân dân (quân nhân); nếu Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có năm người, thì ghi đầy đủ họ tên của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, họ tên của Thẩm phán, họ tên của cả ba Hội thẩm nhân dân (quân nhân). Cần chú ý không ghi chức vụ của Thẩm phán; đối với vụ án hình sự thông thường thì không ghi chức vụ, nghề nghiệp của Hội thẩm nhân dân (quân nhân); đối với vụ án hình sự có bị cáo là người dưới 18 tuổi thì ghi nghề nghiệp của Hội thẩm nhân dân (quân nhân). Nếu vụ án do Tòa án quân sự giải quyết thì không ghi Ông (Bà) mà ghi cấp bậc quân hàm.

(6) ghi đầy đủ họ tên của Thư ký phiên tòa và ghi rõ là Thư ký Tòa án hoặc Thẩm tra viên của Tòa án nào như hướng dẫn tại điểm (1).

(7) ghi tên Viện kiểm sát như hướng dẫn tại (1); ghi họ tên Kiểm sát viên thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa.

(8) trường hợp vụ án được xét xử và kết thúc trong một ngày thì bỏ hai chữ Trong các (ví dụ: Ngày 15 tháng 7 năm 2017). Trường hợp vụ án được xét xử trong hai ngày thì ghi Trong các ngày (ví dụ: Trong các ngày 02, 03 tháng 3 năm 2017); nếu từ ba ngày trở lên mà liền nhau thì ghi Từ ngày đến ngày (ví dụ: Từ ngày 06 đến ngày 10 tháng 3 năm 2017); nếu từ ba ngày trở lên mà không liền nhau thì ghi Trong các ngày (ví dụ: Trong các ngày 07, 08 và ngày 15 tháng 3 năm 2017); nếu khác tháng mà liền nhau thì ghi từ ngày... tháng... đến ngày... tháng... (ví dụ: Từ ngày 31 tháng 05 đến ngày 02 tháng 6 năm 2017); nếu không liền nhau thì ghi các ngày của từng tháng (Ví dụ: Trong các ngày 30, 31 tháng 3 và các ngày 04, 05 tháng 4 năm 2017).

(9) nếu vụ án được xét xử tại trụ sở Tòa án thì ghi như hướng dẫn tại mục (1) (4). Nếu vụ án được xét xử lưu động thì ghi địa điểm nơi diễn ra phiên tòa.

(10) nếu xét xử kín thì thay cụm từ công khai bằng từ kín.

(11) và (12) ghi đầy đủ họ tên bị cáo và các bí danh, tên thường gọi khác (nếu có); nếu bị cáo là

người dưới 18 tuổi phải ghi đầy đủ ngày, tháng, năm sinh tính đến ngày bị cáo thực hiện hành vi phạm tội (ví dụ: Đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 16 tuổi 8 tháng 15 ngày); nếu bị cáo trên 18 tuổi thì ghi ngày, tháng, năm sinh hoặc tuổi; ghi nơi đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú, nơi sinh sống của bị cáo. Đối với tiền sự thì chỉ ghi khi đã xác định đúng theo quy định của pháp luật lần bị xử lý đó tính đến ngày phạm tội chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý hành chính hoặc bị xử lý kỷ luật. Đối với tiền án thì chỉ ghi khi đã xác định đúng theo quy định của pháp luật lần bị kết án đó tính đến ngày phạm tội chưa được xoá án. Về nhân thân ghi án tích, đã bị xử phạt vi phạm hành chính, đã xử lý kỷ luật cụ thể các lần đó và ghi rõ là các án tích, xử phạt vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật đó đã được xoá. Trường hợp bị cáo là pháp nhân thương mại thì ghi tên, địa chỉ trụ sở, tên người đại diện theo pháp luật, tiền án, tiền sự của pháp nhân thương mại và các thông tin cần thiết khác; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.

(13) ghi ngày bị cáo bị bắt, tạm giam; nếu trước đó bị cáo đã bị tạm giữ, bị bắt, tạm giam, thì ghi ngày bị tạm giữ, ngày bị bắt, tạm giam và ngày được cho tại ngoại; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.

(14) và (15) nếu bị cáo có người đại diện hợp pháp thì ghi rõ họ tên của bị cáo đó (ví dụ: Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Văn A). Sau chữ là ghi quan hệ như thế nào với bị cáo (ví dụ: là bố của bị cáo); nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.

(16) nếu có người bào chữa thì ghi đầy đủ họ tên của người bào chữa và họ tên của bị cáo được bào chữa; nếu người bào chữa là luật sư thì ghi luật sư của Văn phòng luật sư nào và thuộc Đoàn luật sư nào (ví dụ: Ông Trần B, Luật sư Văn phòng luật sư Vạn Xuân thuộc Đoàn luật sư tỉnh H bào chữa cho Nguyễn Văn C); nếu không phải là luật sư thì ghi nghề nghiệp, nơi công tác của người bào chữa (ví dụ: Bà Lê Thị M, bào chữa viên nhân dân công tác tại Hội luật gia tỉnh M bào chữa cho Nguyễn Văn D); nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.

(17), (18), (19), (20), (21), (22), (23) và (24) nếu có người nào tham gia tố tụng thì ghi đầy đủ họ tên, tuổi, nơi cư trú của người đó. Trường hợp bị hại là người bị xâm phạm về tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự và là người dưới 18 tuổi, thì phải ghi đầy đủ ngày, tháng, năm sinh của bị hại; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.

(25) nếu bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có người bảo vệ quyền lợi cho họ, thì ghi đầy đủ họ tên của họ theo thứ tự; nếu người bảo vệ quyền lợi của đương sự là luật sư thì ghi luật sư của Văn phòng luật sư nào và thuộc Đoàn luật sư nào; nếu không phải là luật sư thì ghi nghề nghiệp, nơi công tác của người bảo vệ quyền lợi cho đương sự; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi có mặt và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi vắng mặt.

(26) nếu có người tham gia tố tụng là người làm chứng thì ghi đầy đủ họ tên; nếu người tham gia tố tụng là người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật thì ghi đầy đủ họ tên, cơ quan công tác.

(27) trong phần này, ghi đầy đủ các nội dung được quy định tại điểm b và điểm c khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

(28) trong phần này, ghi đầy đủ các nội dung được quy định tại các điểm d, đ và e khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Trong phần này, các đoạn văn được đánh số thứ thự trong dấu [ ].

(29) tùy từng trường hợp mà ghi rõ căn cứ pháp luật để ra quyết định.

(30) trong phần này, ghi đầy đủ các nội dung được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

(31) phần cuối cùng của bản án, đối với bản án được thông qua tại phòng nghị án thì phải có đầy đủ chữ ký, ghi đầy đủ họ tên của các thành viên Hội đồng xét xử và đóng dấu (bản án này phải lưu vào hồ sơ vụ án); đối với bản án để gửi cho các bị cáo, các đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan và Viện kiểm sát theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự thì ghi như sau:

Cỡ chữ