vanban.org

Bản án 24/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình Tuyên án 14/07/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lƣơng Xuân Tr phạm tội "Mua bán trái phép chất ma tuý".

Xử phạt bị cáo Lƣơng Xuân Tr 02 năm 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ 11/3/2020. Hình phạt bổ sung: Phạt bị cáo Lƣơng Xuân Tr 5.000.000 đồng để nộp ngân sách nhà nƣớc. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lương Xuân Tr -MBMT - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lƣơng Xuân Tr phạm tội "Mua bán trái phép chất ma tuý".
  • Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật hình sự giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KIẾN XƢƠNG
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2020/HS-ST
Ngày 12 - 6 - 2020

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN XƢƠNG, TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Đông Giang

Các hội thẩm nhân dân: Ông Mai Xuân Tr và ông Hà Kim Anh

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thu Ngoan – Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện K, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Duyên - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 6 năm 2020 tại Hội Tr Uỷ ban nhân dân thị trấn K, huyện K, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 33/2020/TLST –HS ngày 29 tháng 5 năm 2020, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 28/2020/QĐXXST- HS ngày 01 tháng 6 năm 2020 đối với:

*Bị cáo Lƣơng Xuân Tr, sinh ngày 07/5/1975; Nơi cƣ trú: Khu Tân Tiến, thị trấn K, huyện K, tỉnh Thái Bình; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lƣơng Quang T, sinh năm 1937 và con bà Hoàng Thị Tr, sinh năm 1937; Vợ Vũ Thị H, sinh năm 1977 (đã ly hôn); có 01 con tên Lƣơng Thanh Gi, sinh năm 2000; Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Năm 1993 nhập ngũ tại Tr Đoàn 28, sƣ đoàn 10, quân đoàn 3 đến năm 1995 xuất ngũ trở về địa phƣơng; Năm 2008 Chủ tịch UBND huyện K ra quyết định đƣa vào Tr tâm chữa bệnh, giáo dục bắt buộc số 1844 ngày11/12/2008 (đã chấp hành xong ngày 16/12/2009); Bản án số 52/2012/HSST ngày 27/9/2012 của Tòa án nhân dân huyện K xử phạt 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, đã đƣợc xóa án tích.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 11/3/2020 đến ngày 14/3/2020 chuyển tạm giam, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện K; Bị cáo đƣợc trích xuất có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Anh Nguyễn Văn Tr, sinh năm 1995 ( vắng mặt)

Nơi cƣ trú: Thôn Ái Q, xã Bình Đ, huyện K, tỉnh Thái Bình.

* Người làm chứng:

- Anh Đào Xuân Q, sinh năm 1997 (vắng mặt)

Nơi cƣ trú:Thôn Tân Ấ, xã Minh T, huyện K, tỉnh Thái Bình.

* Người chứng kiến:

- Anh Nguyễn Tiến Th, sinh năm 1970 (vắng mặt)

Nơi cƣ trú: Khu Cộng Hoà, thị trấn K, huyện K, tỉnh Thái Bình.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Về hành vi mua bán trái phép chất ma túy: Khoảng 14 giờ 15 phút ngày 11/3/2020 tại khu Cộng Hoà, thị trấn K, huyện K tổ công tác Công an huyện K bắt quả tang Lƣơng Xuân Tr có hành vi bán trái phép 01 gói ma tuý loại Methamphetamine có khối lƣợng 0,0491 gam cho Nguyễn Văn Tr lấy 500.000đồng. Công an huyện K đã quản lý và thu giữ tại túi quần bên trái phía trƣớc của Tr 01 gói ma tuý bên trong chứa chất tinh thể màu trắng, Tr khai ma túy mua của Tr và 01 điện thoại Nokia kèm theo sim số 0983287622, Tr khai điện thoại dùng liên lạc với Tr để mua ma túy. Thu tại lòng bàn tay trái của Tr một tờ tiền mệnh giá 500.000đồng, Tr khai tiền vừa bán ma túy cho Tr và 01 điện thoại Samsung màu xanh kèm theo sim số 0941555712, Tr khai điện thoại dùng để liên lạc bán ma túy cho Tr. Ngoài ra khám xét khẩn cấp chỗ ở của Tr, Công an còn thu giữ 01 bộ bình sử dụng ma tuý bên trong đoạn ống thuỷ tinh hình cầu có bám dính Methamphetamine qua giám định không xác định đƣợc khối lƣợng, Tr khai bình sử dụng ma túy là của Tr dùng để sử dụng ma túy.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Lƣơng Xuân Tr khai nhận: Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 11/3/2020, Tr nhận đƣợc cuộc điện thoại của Nguyễn Văn Tr gọi đến từ số điện thoại 0983287622 đến số điện thoại của Tr là 0941555712 để hỏi mua ma túy, Tr đồng ý và bảo Tr chờ, sau đó Tr đi lên bến xe thành phố Thái Bình mua của một ngƣời phụ nữ không quen biết 01 túi ma túy loại Methamphetamine với giá 400.000 đồng. Tr mang về nhà lấy một ít ma túy vừa mua để sử dụng, số còn lại Tr hẹn gặp Tr tại khu Cộng Hòa, thi trấn K, huyện K bán lại cho Tr với giá 500.000 đồng, sau đó bị Công an huyện K bắt giữ.

Tại bản kết luận giám định số 87/KLGĐ-PC09 ngày 12/3/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận: Mẫu gửi giám định (chất dạng tinh thể trong suốt) là ma tuý loại Methamphetamine có khối lƣợng 0,0491 gam; chất màu nâu bám dính trong ống thuỷ tinh trong suốt hình gấp khúc một đầu hình cầu gửi giám định là ma tuý loại Methamphetamine, không xác định đƣợc khối lƣợng do chất bám dính trong ống thuỷ tinh ít, ở dạng vi vết.

Cáo trạng số 33/CT-VKSKX ngày 28/5/2020,Viện kiểm sát nhân dân huyện K đã truy tố Lƣơng Xuân Tr về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

- Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1và khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật hình sự: Tuyên bố bị cáo Lƣơng Xuân Tr phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tuyên phạt Lƣơng Xuân Tr từ 02 năm 06 tháng đến 02 năm 09 tháng tù; phạt bị cáo 5.000.000đồng đến 7.000.000đồng để nộp ngân sách nhà nƣớc.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

Tịch thu của bị cáo Lƣơng Xuân Tr số tiền 500.000đồng để nộp ngân sách nhà nƣớc; 01 điện thoại di động hiệu Samsung để hóa giá nộp ngân sách nhà nƣớc; 01 sim điện thoại số 09415555712, 01 chai nhựa màu trắng trên lắp gắn ống hút màu xanh, 01 bật lửa ga màu trắng, 01 phong bì niêm phong vật chứng số 87 thu khi khám xét chỗ ở nhà bị cáo Tr bên trong có ống thủy tinh để tiêu hủy.

Tịch thu của Nguyễn Văn Tr số ma túy hoàn trả sau giám định để tiêu hủy; 01 điện thoại di động hiệu Nokia để hóa giá nộp ngân sách nhà nƣớc; 01 sim điện thoại số 0983287622 để tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Sau phần tranh luận, bị cáo nói lời sau cùng, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện K, Điều tra viên,Viện kiểm sát nhân dân huyện K, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa bị cáo Lƣơng Xuân Tr khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, hành vi phạm tội của bị cáo còn đƣợc chứng minh bằng các chứng cứ sau: Biên bản bắt ngƣời phạm tội quả tang; Biên bản tạm giữ đồ vật tài liệu, biên bản khám xét chỗ ở, biên bản kiểm tra nhật ký điện thoại do Công an huyện K lập ngày 11/3/2020; Kết luận giám định số 87/KLGĐ-PC09 ngày 12/3/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình; Lời khai của ngƣời có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn Tr, lời khai của ngƣời làm chứng anh Đào Xuân Q, lời khai của ngƣời chứng kiến anh Nguyễn Tiến Th. Từ những chứng cứ nêu trên có đủ cơ sở kết luận: Trƣa ngày 11/3/2020 Nguyễn Văn Tr liên lạc với Lƣơng Xuân Tr qua điện thoại di động hỏi mua ma túy, Tr nhất trí đã đi mua 400.000 đồng đƣợc một túi ma túy loại Methamphetamine, sau khi mua đƣợc Tr đã sử dụng một ít, số còn lại có khối lƣợng 0,0491 gam Methamphetamine Tr hẹn gặp Tr tại khu Cộng Hòa, thi trấn K, huyện K bán lại cho Tr với giá 500.000 đồng. Hành vi của bị cáo Lƣơng Xuân Tr đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt đƣợc quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Điều 251. Tội mua bán trái phép chất ma túy:

“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

………

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”

Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo Lƣơng Xuân Tr cho thấy: Hành vi mua bán trái phép chất ma túy của bị cáo thuộc loại tội nghiêm trọng, xâm phạm đến các quy định của Nhà nƣớc về quản lý các chất ma túy, gây nguy hại cho ngƣời sử dụng và cộng đồng. Methamphetamine là chất ma túy gây nghiện, nhà nƣớc cấm mua bán, tàng trữ, sử dụng…Mặc dù nhận thức rõ tác hại của ma túy và biết đƣợc việc bán ma túy là vi phạm pháp luật nhƣng vì hám lợi bị cáo đã bất chấp pháp luật, bị cáo đã mua ma túy về sử dụng cho bản thân và bán cho đối tƣợng nghiện để kiếm lời, trƣớc lần phạm tội này bị cáo đã từng bị kết án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, bị cáo không lấy đó làm bài học sửa đổi bản thân mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, điều đó thể hiện ý thức coi thƣờng, bất chấp pháp luật của bị cáo. Do đó cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn tƣơng xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo đồng thời còn là bài học để răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo Lƣơng Xuân Tr không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, bị cáo có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự, do đó cần áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Lƣơng Xuân Tr mua bán ma túy mục đích để bán kiếm lời do đó cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Hành vi tàng trữ 0,0491 gam Methamphetamine của Nguyễn Văn Tr mục đích để sử dụng cho bản thân, bản thân chƣa có tiền án, tiền sự về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý, khối lƣợng ma tuý dƣới 0,1 gam do đó không đủ căn cứ truy cứu hình sự đối với Tr về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” nên Công an huyện K ra quyết định xử lý vi phạm hành chính đối với Tr là đúng quy định.

Đối với số ma tuý loại Methamphetamine bám dính tại ống thuỷ tinh gấp khúc hình cầu thu giữ của bị cáo Lƣơng Xuân Tr gửi giám định do không xác định đƣợc khối lƣợng do chất bám dính trong ống thuỷ tinh ít ở dạng vi vết, vì vậy Công an huyện K đã xử lý hành chính đối với bị cáo Tr là phù hợp với quy định pháp luật.

Về nguồn gốc số ma tuý bị cáo Lƣơng Xuân Tr khai mua của ngƣời phụ nữ không biết tên, địa chỉ tại khu vực bến xe thành phố Thái Bình, do đó không xác định đƣợc ngƣời bán, không có căn cứ xử lý.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu của bị cáo Lƣơng Xuân Tr số tiền 500.000đồng là tiền bị cáo bán ma túy cho Nguyễn Văn Tr để nộp ngân sách nhà nƣớc; 01 điện thoại di động hiệu Samsung là điện thoại bị cáo Lƣơng Xuân Tr liên lạc mua bán ma túy với Tr để hóa giá nộp ngân sách nhà nƣớc; 01 sim điện thoại số 09415555712, 01 chai nhựa màu trắng nắp gắn ống hút màu xanh , 01 phong bì niêm phong ống thủy tinh, 01 bật lửa ga màu trắng không còn giá trị sử dụng để tiêu hủy.

Tịch thu của Nguyễn Văn Tr số ma túy có khối lƣợng 0,0292 gam Methamphetamine hoàn trả sau giám định là ma túy Nhà nƣớc cấm tàng trữ, sử dụng, lƣu hành để tiêu hủy; 01 điện thoại di động hiệu Nokia 130 màu đen là điện thoại Tr dùng liên lạc mua ma túy của bị cáo Tr để hóa giá nộp ngân sách nhà nƣớc; 01 sim điện thoại số 0983287622.

Về án phí: Bị cáo Lƣơng Xuân Tr phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: khoản 1, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106, Điều 135 và 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Tuyên bố: Bị cáo Lƣơng Xuân Tr phạm tội "Mua bán trái phép chất ma tuý".

2. Xử phạt bị cáo Lƣơng Xuân Tr 02 năm 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ 11/3/2020.

Hình phạt bổ sung: Phạt bị cáo Lƣơng Xuân Tr 5.000.000 đồng để nộp ngân sách nhà nƣớc.

3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu để tiêu hủy 0,0292 gam Methamphetamine mẫu thu của Nguyễn Văn Tr hoàn trả sau giám định và toàn bộ bao gói trong phong bì niêm phong số 87/KLGĐ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình mặt trƣớc ghi “hoàn trả mẫu vật gửi giám định, vật chứng thu giữ của Nguyễn Văn Tr” và Lƣơng Xuân Tr mặt trƣớc ghi “hoàn trả mẫu vật gửi giám định vật chứng thu khi khám xét chỗ ở của Lƣơng Xuân Tr”; Tịch thu của bị cáo Lƣơng Xuân Tr số tiền 500.000đ đã bán ma tuý cho Tr để nộp vào Ngân sách Nhà nƣớc; tịch thu của bị cáo Lƣơng Xuân Tr 01 điện thoại di động Samsung J410F màu xanh và của Nguyễn Văn Tr 01 điện thoại di động Nokia 130 màu đen để hoá giá nộp vào ngân sách nhà nƣớc; tịch thu để tiêu huỷ của bị cáo Lƣơng Xuân Tr 01 sim điện thoại số 0941555712 và của Nguyễn Văn Tr 01 sim điện thoại số 0983287622; tịch thu để tiêu huỷ của bị cáo Lƣơng Xuân Tr 01 chai nhựa màu trắng đƣợc gắn 01 ống nhựa màu xanh, 01 bật lửa ga màu trắng.(Toàn bộ số vật chứng nêu trên đang được quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản kê biên giữa Công an huyện K và Chi cục thi hành án dân sự huyện K lập ngày 29/5/2020).

4. Về án phí: Bị cáo Lƣơng Xuân Tr phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án 12/6/2020; ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận tống đạt hợp lệ bản án.

Cỡ chữ