vanban.org

Bản án 24/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị Tuyên án 20/05/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Lê Quang L phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Xử phạt bị cáo Lê Quang L 12 (mười hai) tháng tù, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 26/12/2019 đến ngày 04/01/2020. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án. Về xử lý vật chứng liên quan đến vụ án: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Quang L - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS n…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Lê Quang L phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HƢỚNG HÓA
TỈNH QUẢNG TRỊ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:24/2020/HS-ST
Ngày 20 - 5- 2020

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƢỚNG HÓA, TỈNH QUẢNG TRỊ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trung

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Dương Phước Định

Ông Hồ Văn Toàn

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tố Quỳnh - Kiểm sát viên

Ngày 20 tháng 5 năm 2020 tại Hội trường Tòa án nhân dân huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 25/2020/TLST-HS ngày 20 tháng 4 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:24 /2020/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 5 năm 2020 đối với bị cáo:

Lê Quang L, sinh ngày 28/8/1990 tại huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị; nơi ĐKHKTT: thôn Đạo Đầu, xã Triệu Trung, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị; chổ ở: khóm D, thị trấn L, huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con bà Lê Thị H; có vợ là Nguyễn Thị Y và có 02 con, lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2016 tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 26/12/2019 đến ngày 04/01/2020; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: chị Nguyễn Thị Y, sinh năm 1993; trú tại: khóm D, thị trấn L, huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị; Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 09 giờ 45 phút ngày 26/12/2019, tại khu vực đường đường vành đai biên giới thuộc khóm Duy Tân, thị trấn Lao Bảo, huyện Hướng Hóa, Tổ công tác Đồn Biên phòng Cửa khẩu Quốc tế Lao Bảo, Đội Đặc nhiệm Phòng chống ma túy và tội phạm thuộc Phòng PCMT&TP Bộ chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Quảng Trị làm nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát thì phát hiện Lê Quang L điều khiển xe mô tô nhãn hiệu BLADE màu sơn đỏ đen, biển kiểm soát 74H1-169.55 theo hướng đường Lê Thế Tiết ra đường vành đai biên giới thuộc khóm Duy Tân, thị trấn Lao Bảo, huyện Hướng Hóa. Tổ công tác tiến hành kiểm tra, phát hiện trong túi quần L đang mặc trên người có 05 viên nén hình trụ tròn màu hồng, trên bề mặt mỗi viên có dập chìm chữ WY gói trong 01 chuỗi ni long màu xanh kích thước 3,5cm x 0,5cmgói ni long trong suốt, kích thước 02cm x 01cm (nghi là ma túy tổng hợp). Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, tạm giữ 05 viên nén nói trên (niêm phong trong 01 phong bì giấy ký hiệu MTDT); tạm giữ 01 xe mô tô hai bánh hiệu HONDA, số loại BLADE, màu sơn đỏ đen, số máy JA36E-0308356, số khung RLHJA3612EY155788, biển kiểm soát 74H1-169.55 đã qua sử dụng.

Kết luận giám định số 57/KLGĐ ngày 30/12/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị kết luận: 05 viên nén màu hồng được niêm phong trong phong bì ký hiệu MTDT gửi đến giám định có khối lượng 0,5356gam là ma túy loại methamphetamine. Methamphetamine là chất ma túy nằm trong Danh mục II, STT:323 Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ.

Quá trình điều tra Lê Quang L khai nhận: Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 26/12/2019 Lê Quang L đến nhà Lê Công H, sinh năm 1993; trú tại: khóm D, thị trấn L, huyện Hướng Hóa chơi. Khi đến nơi L gặp Hùng và Lê Nguyên A, sinh năm 1992; trú tại khóm D, thị trấn L, huyện Hướng Hóa. Quá trình nói chuyện, Hùng nhờ L mua giúp ma túy về để sử dụng thì L từ chối. Đến khoảng 09 giờ 10 phút cùng ngày, Hùng tiếp tục nhờ L mua ma túy về sử dụng chung thì L đồng ý. Hùng đưa cho L 200.000 đồng, L điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 74H1-169.55 đến nhà Nguyễn Vũ Lực, sinh năm 1988; trú tại: khóm Vĩnh Đông, thị trấn Lao Bảo, huyện Hướng Hóa mua 05 viên ma túy với giá 200.000 đồng. Sau khi nhận ma túy từ Lực, L bỏ ma túy vào túi quần đang mặc trên người rồi điều khiển xe mô tô quay trở về nhà H; khi đến khu vực đường vành đai biên giới thuộc khóm Duy Tân, thị trấn Lao Bảo thì bị lực lượng chức năng bắt quả tang như đã nêu trên. Qua điều tra thì Lê Quang A vắng mặt tại địa phương, đi đâu không rõ; Đối với Hùng và Lực đều thừa nhận sáng 26/12/2019 có gặp L nhưng sau đó L đi đâu làm gì không biết, mà chỉ biết khi L bị bắt do tàng trữ ma túy. Vì vậy cơ quan điều tra đang tiếp tục điều tra, làm rõ có hay không hành vi như L kai báo để xử lý theo quy định của pháp luật.

Bản cáo trạng số: 31/CT-VKSHH ngày 19 tháng 4 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị đã truy tố bị cáo Lê Quang L về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hướng Hóa đề nghị HĐXX: Tuyên bố bị cáo Lê Quang L phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"; căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lê Quang L từ 12 đến 15 tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị HĐXX, căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu, tiêu hủy số ma túy hoàn lại sau giám định được đặt trong 01 túi niêm phong, ký hiệu mã số PS3A 102845, có đóng dấu giáp lai của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Quảng Trị là vật cấm tàng trữ, lưu hành. Đối với 01 xe mô tô hai bánh hiệu HONDA, số loại BLADE, màu sơn đỏ đen, số máy JA36E-0308356, số khung RLHJA3612EY155788, biển kiểm soát 74H1-169.55 đã qua sử dụng có Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy chủ sở hữu là chị Nguyễn Thị Y, chị Y không biết L sử dụng zxe mô tô đi đâu làm gì và L phạm tội khi cất giấu ma túy ở trong người nên căn cứ khoản 2 Điều 47; điểm a khoản 3 Điều 106 BLTTHS, trả lại xe mô tô cho chị Nguyễn Thị Y và Lê Quang L.

Chị Nguyễn Thị Y trình bày ý kiến: Xe mô tô là của chị mua trong quá trình chung sống vợ chồng, là phương tiện duy nhất để chị đi làm ăn nuôi con nên mong HĐXX trả lại để chị có phương tiện làm ăn sinh sống.

Bị cáo Lê Quang L trình bày lời sau cùng: Bị cáo thừa nhận hành vi cất giấu 05 viên là ma túy loại methamphetamine, có tổng khối lượng 0,5356 gam, để sử dụng thì bị bắt giữ. Bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hướng Hóa, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hướng Hóa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với kết quả điều tra và các tài liệu, chứng cứ thu thập được trong hồ sơ vụ án, từ đó có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử khẳng định: Vào ngày 26/12/2019 tại đường vành đai biên giới thuộc khóm Duy Tân, thị trấn Lao Bảo, huyện Hướng Hóa, bị cáo Lê Quang L bị Cơ quan chức năng bắt quả tang về hành vi cất giấu trong túi quần đang mặc trên người 05 viên nén hình trụ tròn màu hồng, trên bề mặt mỗi viên có dập chìm chữ WY là ma túy loại methamphetamine có tổng khối lượng 0,5356 gam để sử dụng. Vì vậy, hành vi của bị cáo Lê Quang L đã phạm vào tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" với tình tiết “...methamphetamine có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”. Tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

. Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo; HĐXX thấy: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội rỏ ràng, có thái độ ăn năn về hành vi phạm tội; vì vậy, bị cáo được hưởng hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tuy bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự nhưng bị cáo đang sử dụng ma túy; mặt khác, tình hình diễn biến loại tội phạm về ma túy đang diễn biến ngày càng phức tạp trên địa bàn. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo hình phạt tù ngang mức khởi điểm của khung hình phạt mà điều luật quy định và căn cứ khoản 1 Điều 38 Bộ luật hình sự, buộc bị cáo phải chấp hành tại cơ sở giam giữ mới có tác dụng giáo dục, ngăn ngừa bị cáo phạm tội mới; phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm.

Hiện bị cáo đang được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Vì vậy cần tiếp tục thực hiện Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo cho đến khi bản án có hiệu lực pháp luật.

. Về vấn đề khác: Theo lời khai của L thì bị cáo L đến nhà Lê Công Hùng, sinh năm 1993; trú tại: khóm Duy Tân, thị trấn Lao Bảo, huyện Hướng Hóa chơi và gặp Lê Nguyên An, sinh năm 1992; trú tại khóm Duy Tân, thị trấn Lao Bảo, huyện Hướng Hóa; sau đó, Hùng nhờ L đi mua ma túy về sử dụng; L đến nhà Nguyễn Vũ Lực, sinh năm 1988; trú tại: khóm Vĩnh Đông, thị trấn Lao Bảo, huyện Hướng Hóa mua 05 viên ma túy với giá 200.000 đồng. Sau khi nhận ma túy từ Lực, L bỏ ma túy vào túi quần đang mặc trên người rồi điều khiển xe mô tô quay trở về nhà Hùng; khi đến khu vực đường vành đai biên giới thuộc khóm Duy Tân, thị trấn Lao Bảo thì bị lực lượng chức năng bắt quả tang. Qua điều tra thì Lê Quang An vắng mặt tại địa phương, đi đâu không rõ; lời khai của Hùng và Lực đều thừa nhận sáng 26/12/2019 có gặp L nhưng sau đó L đi đâu làm gì không biết, mà chỉ biết khi L bị bắt do tàng trữ ma túy. Vì vậy cơ quan điều tra đang tiếp tục điều tra, làm rõ có hay không hành vi như L khai báo để xử lý là đúng quy định của pháp luật.

.Về xử lý vật chứng: Đối với 01 túi niêm phong còn lại sau giám định, ký hiệu mã số PS3A 102845, có đóng dấu giáp lai của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Quảng Trị là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu, tiêu hủy.

Đối với 01 xe mô tô hai bánh hiệu HONDA, số loại BLADE, màu sơn đỏ đen, số máy JA36E-0308356, số khung RLHJA3612EY155788, biển kiểm soát 74H1-169.55 đã qua sử dụng có Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy chủ sở hữu là chị Nguyễn Thị Y, chị Y không biết L sử dụng xe mô tô đi đâu làm gì; Mặt khác, L phạm tội cất giấu ma túy ở trong người nên căn cứ khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 3 Điều 106 BLTTHS, trả lại xe mô tô cho chị Nguyễn Thị Y là phù hợp quy định pháp luật.

Vật chứng liên quan đến vụ án hiện đang được Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị quản lý theo biên bản giao nhận ngày 20/4/2020.

. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án buộc Lê Quang L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 38 Bộ luật hình sự;

Căn cứ điểm c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố các bị cáo Lê Quang L phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Xử phạt bị cáo Lê Quang L 12 (mười hai) tháng tù, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 26/12/2019 đến ngày 04/01/2020. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.

2. Về xử lý vật chứng liên quan đến vụ án:

Tịch thu, tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định trong 01 túi niêm phong, ký hiệu mã số PS3A 102845, có đóng dấu giáp lai của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Quảng Trị.

Trả lại cho chị Nguyễn Thị Y 01 xe mô tô hai bánh hiệu HONDA, số loại BLADE, màu sơn đỏ đen, số máy JA36E-0308356, số khung RLHJA3612EY155788, biển kiểm soát 74H1-169.55 đã qua sử dụng có Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy chủ sở hữu là chị Nguyễn Thị Y.

Vật chứng liên quan đến vụ án hiện đang được Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị quản lý theo biên bản giao nhận ngày 20/4/2020.

3. Về án phí: Buộc bị cáo Lê Quang L phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Bị cáo, chị Nguyễn Thị Y có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ