- Tranh chấp gì? án hình sự — "ĐẶNG MẠNH H - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Bị cáo ĐẶNG MẠNH H phạm tội “Đánh bạc”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ TỈNH G | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 24/2020/HS-ST Ngày: 24-7-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH G
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hoài Thơ.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lưu Thông;
Bà Huỳnh Thị Thành.
- Thư ký phiên toà: Bà Võ Thị Mỹ Vương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh G tham gia phiên tòa: Ông Ngô Văn Kim - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 7 năm 2020 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh G xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 19/2020/TLST-HS ngày 20 tháng 5 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/2020/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 7 năm 2020 đối với bị cáo:
ĐẶNG MẠNH H; sinh năm 1961 tại tỉnh Ngh; nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Xóm 22, xã Nghi Phong, huyện Nghi L, tỉnh Ngh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 10/10; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Phái (đã chết) và bà Phạm Thị Nhung (đã chết); có vợ là Lê Thị Cúc (đã ly hôn năm 2009) và có 02 con; tiền án: Không; tiền sự: 01 (ngày 29 tháng 11 năm 2019 bị Công an thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh G ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc bằng hình thức phạt tiền là: 1.500.000đồng).
Ngày 19 tháng 12 năm 2019, thực hiện hành vi đánh bạc. Ngày 20 tháng 12 năm 2019, bị khởi tố về tội: “Đánh bạc”, theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự và bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện bị cáo đang tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Bà Nguyễn Thị Thiên Th, sinh năm 1976. Trú tại: Làng Th, xã Gl , huyện Đ, G. Có mặt.
2. Bà Phạm Thị D, sinh năm 1983. Trú tại: Thôn 3, thị trấn Đ, huyện Đ, G. Có mặt.
3. Ông Lê Tấn Kh, sinh năm 1979. Trú tại: Làng Blo, xã ADơk, huyện Đ, G. Vắng mặt.
4. Ông Võ Văn Đ, sinh năm 1981. Trú tại: Làng Th, xã Gl , huyện Đ, G. Có mặt.
- Người làm chứng:
1. Ông Châu Bá S, sinh năm 1955. Trú tại: Thôn 2, xã An Phú, thành phố Pleiku, G. Có mặt.
2. Ông Lê Quốc A, sinh năm 1974. Trú tại: Làng Blo, xã ADơk, huyện Đ, G. Có mặt.
3. Ông Nguyễn Văn Th, sinh năm 1980. Trú tại: Khu phố 3, phường Phú Thạnh, thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.
- Người tham gia tố tụng khác: Không.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 19/12/2019, Nguyễn Thị Thiên Th, Lê Tấn Kh, Phạm Thị D, Lê Quốc A, Châu Bá S và Nguyễn Văn Th đang ngồi ăn uống tại quán cà phê Uyển My và cũng là nhà của Nguyễn Thị Thiên Th tại Làng Tươh Glah, xã Glar, huyện Đ. Lúc này ĐẶNG MẠNH H đang làm việc tại Làng Th, xã Gl đi ngang qua nhà bà Thu, thấy mọi người đang ăn uống và vì cũng quen biết nên ĐẶNG MẠNH H đã vào nhà bà Thu và cùng ngồi ăn uống với mọi người.
Trong lúc đang ăn uống thì Phạm Thị D gợi ý rủ đánh bạc ăn tiền dưới hình thức đánh phỏm thì được Võ Văn Đ, Lê Tấn Kh, ĐẶNG MẠNH H đồng ý. Khoang lấy 01 bộ bài Tú lơ khơ của nhà bà Thu đang để trên quầy bán hàng rồi cùng Hùng, Đà, Dương đi vào phòng ngủ của bà Thu để đánh bạc. Đến khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, khi Phạm Thị D, Võ Văn Đ, Lê Tấn Kh và ĐẶNG MẠNH H đang đánh bạc thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ bắt quả tang. Thu giữ tại chiếu bạc số tiền 4.211.000 đồng; 01 bộ bài tú lơ khơ gồm 52 lá; 01 chiếc chăn màu đỏ.
Hình thức đánh phỏm:
Bộ bài tú lơ khơ 52 lá, lần lượt chia đều cho 04 người chơi mỗi người 09 lá bài, số còn lại được để dưới chiếc bạc trước mặt những người chơi. Bắt đầu từ người chia bài được chọn 01 lá bài để đánh cho người kế bên. Trong ván bài, khi đang chơi mà có người “ù” thì dừng ván bài để tính tiền thắng, thua; không có người “ù” thì khi bốc hết số bài còn lại được để ở chiếu bạc thì kết thúc ván bài và tính “điểm” trên bài chưa đánh để xác định thắng, thua để tính tiền.
Cách tính “phỏm”: Trong 9 lá bài đã được chia cho 01 người trong một ván bài, nếu có 03 lá bài trở lên cùng chất hoặc cùng một loại thì được tính là “01 phỏm”, cả 09 lá bài vào “phỏm” thì được tính là bài “ù”, có 10 lá bài vào “phỏm” thì được tính là “ù tròn”; nếu không ai có bài “ù” thì tính điểm bài để tính thắng, thua; ai có số điểm của bài chưa đánh ít nhất là người thắng trong ván bài đó và người thắng được những người thua bạc (03 người còn lại) chung tiền theo cách tính là thua nhất, thua nhì, thua ba. Nếu bài của ai không có “phỏm” thì tính là bài “cháy”.
Tỷ lệ ăn thua trong 01 văn bài được thống nhất: Người thua nhất trong 01 ván bài phải chung tiền cho người thắng là 60.000 đồng. Người thua nhì trong 01 ván bài phải chung tiền cho người thắng là 40.000 đồng. Người thua ba trong 01 ván bài phải chung tiền cho người thắng là 20.000 đồng. Bài người nào bị cháy, chung cho người thắng 80.000 đồng. Trong 01 ván bài nếu có người “ù” thì 03 người còn lại, mỗi người phải chung cho người có bài “ù” là 100.000 đồng. Nếu có người “ù tròn” thì 03 người còn lại, mỗi người phải chung cho người có bài “ù tròn” là 200.000 đồng. Ngoài ra, bị cáo Hùng và các đối tượng còn cá cược thêm lá bài “K”, tức là trong ván bài người nào có lá bài “K” cao nhất hoặc có 02 lá bài “K” trở lên thì những người đánh bạc còn lại mỗi người phải chung cho mỗi lá bài “K” là 20.000 đồng và nếu ai có “tứ quý K” (04 lá bài K), thì những người đánh bạc còn lại, mỗi người phải chung cho người có “tứ quý K” là 120.000 đồng. Các con bạc còn cá cược thêm “tứ quý” (tức là 04 lá bài cùng loại). Nếu trong một ván bài, ai có 04 con bài cùng loại thì những người đánh bạc còn lại, mỗi người phải chung cho người có “tứ quý” là 80.000 đồng. Trong khi bốc bài để đánh, nếu lá bài của người vừa đánh ra để người ngồi kế bên ăn, thì người vừa đánh con bài đó phải chung cho người kế bên vừa ăn con bài là 20.000 đồng. Nếu người đánh lá bài cuối gọi là “chốt hạ” để người ngồi kế bên ăn lá bài này thì người vừa đánh lá bài cuối cùng phải chung cho người vừa ăn lá bài cuối cùng là 80.000 đồng.
Các con bạc còn thống nhất, trong 01 ván bài nếu ai có bài “ù” hoặc “ù tròn” thì phải bỏ tiền xâu là 20.000 đồng để trả tiền mua bia cho chủ nhà.
Khi tham gia đánh bạc, ĐẶNG MẠNH H sử dụng số tiền là 1.800.000 đồng, để đánh bạc. Khi bị bắt tại chiếu bạc Hùng còn số tiền là 920.000 đồng.
Lê Tấn Kh mang theo trong người số tiền 3.900.000 đồng, khi tham gia đánh bạc, Khoang chỉ lấy ra và sử dụng số tiền là 900.000 đồng để đánh bạc, số còn lại cất trong người không sử dụng để đánh bạc. Khi bị bắt tại chiếu bạc, Khoang còn số tiền là 820.000 đồng.
Khi tham gia đánh bạc, Võ Văn Đ sử dụng số tiền là 601.000 đồng để đánh bạc. Khi bị bắt, số tiền tại chiếu bạc của Đà có là 1.641.000 đồng.
Khi tham gia đánh bạc, Phạm Thị D sử dụng số tiền là 910.000 đồng để đánh bạc. Khi bị bắt, số tiền tại chiếu bạc của Dương là 690.000 đồng và số tiền 140.000 đồng tiền xâu mà các con bạc để ở chiếu bạc.
Vật chứng thu giữ:
Khi bắt quả tang số tiền thu được tại chiếu bạc là: Số tiền 4.211.000 đồng. Trong đó thu của: ĐẶNG MẠNH H: 920.000đồng; Lê Tấn Khoảng: 820.000đồng; Phạm Thị D: 690.000đồng; Võ Văn Đ: 1.641.000đồng và tiền những người đánh bạc trích lại (gọi là tiền xâu) cũng tại chiếu bạc là: 140.000đồng; 01 bộ bài tú lơ khơ có 52 lá; 01 chiếc chăn màu đỏ.
Thu giữ trên người Lê Tấn Kh 01 ví da bên trong có 3.000.000đồng.
Tại phiên tòa, bị cáo ĐẶNG MẠNH H đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình như trên và không có ý kiến gì khác.
Tại bản Cáo trạng số: 18/CT-VKS ngày 18 tháng 5 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh G truy tố bị cáo ĐẶNG MẠNH H về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo ĐẶNG MẠNH H và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo ĐẶNG MẠNH H từ 6 (sáu) tháng đến 9 (chín) tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự đề nghị xử lý vật chứng.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo ĐẶNG MẠNH H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát. Bị cáo phát biểu ý kiến về mức hình phạt đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ đề nghị áp dụng đối với bị cáo là quá nặng so với hành vi mà bị cáo thực hiện, khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã say nên không ý thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đồng thời bị cáo chỉ đánh bạc giải trí cho vui, vì vậy bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét áp dụng cho bị cáo mức án nhẹ nhất.
Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo ĐẶNG MẠNH H về mức hình phạt và không có ý kiến tranh luận gì với ý kiến của bị cáo Hùng tại phiên tòa.
Bị cáo ĐẶNG MẠNH H không nói lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án.
Căn cứ vào các chứng cứ và các tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
Căn cứ vào các tình tiết, chứng cứ nêu trên,
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên huyện Đ, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, Kiểm sát viên huyện Đ trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp và đúng quy định của pháp luật.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với vật chứng, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận:
Lúc 19 giờ 30 phút ngày 19/12/2019 tại quán cà phê Uyển My và cũng là nhà của Nguyễn Thị Thiên Th trú tại Làng Th, xã Gl , huyện Đ, tỉnh G. ĐẶNG MẠNH H, Lê Tấn Kh, Võ Văn Đ và Phạm Thị D đang có hành vi đánh bạc trái phép sát phạt nhau bằng tiền dưới hình thức đánh phỏm, thì bị bắt quả tang thu giữ tại chiếu bạc là 4.211.000 đồng.
Quá trình điều tra, xác định tổng số tiền mà bị cáo ĐẶNG MẠNH H cùng các đối tượng Lê Tấn Kh, Võ Văn Đ và Phạm Thị D đã sử dụng vào việc đánh bạc là 4.211.000đồng tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
Mặc dù tổng số tiền mà bị cáo ĐẶNG MẠNH H cùng các đối tượng Lê Tấn Kh, Võ Văn Đ và Phạm Thị D sử dụng vào việc đánh bạc dưới 5.000.000 đồng (4.211.000đồng). Tuy nhiên, qua xác minh, xác định bị cáo ĐẶNG MẠNH H đã có 01 tiền sự về hành vi “Đánh bạc”, vào ngày 29/11/2019, bị Công an thị trấn Đ xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc bằng hình thức phạt tiền là: 1.500.000đồng. Ngày 19/12/2019, bị cáo Hùng tiếp tục có hành vi đánh bạc và bị bắt quả tang. Do đó, hành vi của bị cáo ĐẶNG MẠNH H đã phạm vào tội: “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự như Bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Những yếu tố liên quan đến nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và các yếu tố khác có liên quan nhằm xác định tội phạm và hình phạt:
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc chưa đến thời hạn được xem là chưa bị xử phạt hành chính nay lại tiếp tục thực hiện hành vi đánh bạc.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo ĐẶNG MẠNH H đã thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội và thể hiện thái độ ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội thuộc trường hợp“Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”. Đây là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điểm i, s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử sẽ xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo để tạo điều kiện cho bị cáo rèn luyện, cải tạo bản thân thành công dân có ích cho xã hội.
Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Bị cáo ĐẶNG MẠNH H hoàn toàn nhận thức được hành vi đánh bạc là hành vi vi phạm pháp luật và bị cáo đã từng bị xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc, tuy nhiên do ý thức chấp hành pháp luật kém nên bị cáo đã tiếp tục thực hiện hành vi đánh bạc. Hành vi của bị cáo ĐẶNG MẠNH H phải chịu xử lý nghiêm của pháp luật tương xứng với tính chất, mức độ và hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung đối với tội phạm. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử sẽ xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như trên đã phân tích để giảm một phần hình phạt cho bị cáo.
[4] Về hình phạt bổ sung:
Tại khoản 3 Điều 321 của Bộ luật Hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Xét điều kiện hoàn cảnh của bị cáo khó khăn, không có việc làm ổn định, không đảm bảo việc thi hành án nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[5] Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 bộ bài tú lơ khơ có 52 lá (đã qua sử dụng), là công cụ các đối tượng sử dụng vào việc phạm tội, xét không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam 4.211.000đồng, là số tiền thu tại chiếu bạc. Trong đó thu của: ĐẶNG MẠNH H: 920.000 đồng; Lê Tấn Khoảng: 820.000 đồng; Phạm Thị D: 690.000 đồng; Võ Văn Đ: 1.641.000 đồng và tiền những người đánh bạc trích lại (gọi là tiền xâu) cũng tại chiếu bạc là: 140.000 đồng. Xét đây là số tiền bị cáo ĐẶNG MẠNH H và những người đánh bạc dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung Ngân sách Nhà nước.
Đối với 01 chiếc chăn màu đỏ (đã cũ), là công cụ các đối tượng sử dụng làm chiếu bạc phạm tội, xét không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
[6] Về các vấn đề khác:
Về án phí: Bị cáo ĐẶNG MẠNH H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về con người, sự việc liên quan:
Đối với các đối tượng Lê Tấn Kh; Phạm Thị D và Võ Văn Đ là những người cùng tham gia đánh bạc với ĐẶNG MẠNH H. Nhưng do số tiền các đối tượng này dùng để đánh bạc dưới 5.000.000đồng (4.211.000đồng) là không đủ yếu tố cấu thành tôi phạm; mặt khác các đối tượng Phạm Thị D và Võ Văn Đ chưa bị xử phạt hành chính về hành vi này và chưa bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này; đối tượng Lê Tấn Kh vào ngày 28/5/2010, bị Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh G xử phạt 6 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 tháng về tội: “Đánh bạc”, quá trình điều tra, xác minh thì Lê Tấn Kh đã chấp hành xong Bản án và từ đó đến trước ngày 19/12/2019, Lê Tấn Kh cũng chưa có tiền án, tiền sự về hành vi đánh bạc; tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc nên Cơ quan Cảnh sát điều tra ra Quyết định xử lý hành chính đối với Lê Tấn Kh, Phạm Thị D và Võ Văn Đ theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 26 của Nghị định 167 ngày 12/11/2013 của Chính phủ là đúng pháp luật.
Đối với việc Nguyễn Thị Thiên Th để cho các đối tượng ĐẶNG MẠNH H; Lê Tấn Kh; Phạm Thị D và Võ Văn Đ đánh bạc tại phòng ngủ của mình. Nguyễn Thị Thiên Th là người đưa 1.000.000đồng cho ĐẶNG MẠNH H mượn để Hùng cùng các đối tượng Lê Tấn Kh; Phạm Thị D và Võ Văn Đ thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của Thu đã có dấu hiệu đồng phạm với ĐẶNG MẠNH H về tội Đánh bạc. Tuy nhiên, do số tiền các đối tượng dùng để đánh bạc dưới 5.000.000đồng và quá trình điều tra xác định Nguyễn Thị Thiên Th chưa bị xử lý hành chính về hành vi này, chưa bị kết án về tội này và Điều 322 của Bộ luật này, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra ra quyết định xử lý hành chính đối với Nguyễn Thị Thiên Th theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 26 của Nghị định 167 ngày 12/11/2013 của Chính phủ là đúng pháp luật.
Đối với việc các đối tượng khai nhận trong quá trình đánh bạc có bỏ tiền vào 01 chiếc ly nhựa để trả tiền bia uống và tiền nhậu cho Nguyễn Thị Thiên Th. Xét thấy, giữa Nguyễn Thị Thiên Th; ĐẶNG MẠNH H; Lê Tấn Kh; Phạm Thị D và Võ Văn Đ không có sự thỏa thuận, bàn bạc việc thu tiền xâu. Việc các đối tượng bỏ tiền vào ly nhựa là do các đối tượng này tự thỏa thuận với nhau. Nguyễn Thị Thiên Th cũng chưa thu lợi gì từ việc đánh bạc. Do đó, không có cơ sở để xử lý đối với Nguyễn Thị Thiên Th về hành vi Gá bạc.
Đối với số tiền 3.000.000đồng thu trên người Lê Tấn Kh khi bắt quả tang, quá trình điều tra xác định số tiền này không liên quan đến việc đánh bạc, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã trả lại cho Lê Tấn Kh là có cơ sở.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự;
- Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự;
- Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố:
Bị cáo ĐẶNG MẠNH H phạm tội “Đánh bạc”.
2. Xử phạt:
Bị cáo ĐẶNG MẠNH H 10 (mười) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
3. Về án phí:
Buộc bị cáo ĐẶNG MẠNH H phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đồng (hai trăm nghìn đồng).
4. Về vật chứng: Tuyên:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 bộ bài tú lơ khơ có 52 lá (đã qua sử dụng) và 01 chiếc chăn màu đỏ (đã cũ).
- Tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước tiền ngân hàng Nhà nước Việt Nam 4.211.000đồng.
(Theo Biên bản V/v giao nhận vật chứng, tài sản ngày 15/7/2020 giữa Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ, tỉnh G với Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, tỉnh G).
5. Về quyền kháng cáo:
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 24/7/2020), bị cáo và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh G xét xử phúc thẩm.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc được niêm yết hợp lệ.
| Nơi nhận: - Toà án nhân dân tỉnh G; - Sở tư pháp tỉnh G; - Công an huyện Đ; - Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ; - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ; - Các bị cáo; - Người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ/VT. CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hoài Thơ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |