- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đinh Công Đ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? I. Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Đinh Công Đ.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 260 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HN ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 24 /2020/HS-PT Ngày: 14/01/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đình T
Các Thẩm phán:
Ông Phan Huy C
Bà Nguyễn Bích Ng
- Thư ký phiên tòa:
Ông Hoàng Nghĩa H- Cán bộ Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố HNtham gia phiên tòa:
Bà Lê Thị Thu H- Kiểm sát viên.
Ngày 14/01/2020 tại trụ sở Tòa án, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 883/2019/TLPT – HS ngày 12 tháng 12 năm 2019 đối với bị cáo Đinh Công Đ do có kháng cáo của bị cáo.
Đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 85/2019/HS-ST ngày 08 tháng 10 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện BV, thành phố HN.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 837/2019/QĐXXPT-HS ngày 26 tháng 12 năm 2019 đối với bị cáo có kháng cáo: Bị cáo: Đinh Công Đ, sinh năm 1988; tại HN
ĐKHKTT và chỗ ở: thôn GC, xã TX, huyện TT, thành phố HN;
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mường; Tôn Giáo: Không; Trình độ văn
hóa: 10/12 - Nghề nghiệp: Lái xe;
Con ông: Đinh Công M; Con bà: Lê Thị M; Vợ: Hoàng Thị H; Có 02
con; Lớn sinh năm 2009, nhỏ sinh năm 2017;
Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại; Có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Ông Nguyễn Văn Th, sinh năm 1944 (Đã chết).
ĐKHKTT: Thôn Víp, xã MQ, huyện BV, thành phố HN.
Đại diện hợp pháp bị hại: Bà Nguyễn Thị Thìn (Vợ ông Th), anh
Nguyễn Đ Hùng (con ông Th) cùng trú tại: Thôn Víp, xã MQ, huyện
BV, thành phố HN. Bà Thìn và anh Hùng có mặt.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Anh Đinh Công C, sinh năm 1986.
Địa chỉ: Thôn GC, xã TX, huyện TT, Thành phố HN. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 31/03/2019, tại đường tỉnh lộ 415 Đá Chông đi Khánh Thượng, địa phận thôn Víp- xã MQ- huyện BV đã xảy ra vụ tai nạn giao thông đường bộ giữa xe ôtô BKS 29H-103.39 do Đinh Công Đ điều khiển, theo hướng Đá Chông đi Khánh Thượng với xe môtô BKS 51F2-9304 do Ông Nguyễn Văn Th điều khiển sang đường từ ngõ thôn Víp ra tỉnh lộ 415 để đi theo hướng Đá Chông; hậu quả: Ông Th đã tử vong; hai phương tiện bị hư hỏng nhẹ. Công An huyện BV đã tiến hành điều tra, kết quả như sau:
- Khám nghiệm hiện trường: Theo hướng MQ đi Khánh Thượng và lấy mép đường bên phải theo chiều MQ đi Khánh Thượng làm chuẩn, thấy: Tại khu vực xảy ra vụ tai nạn giao thông là đường tỉnh lộ 415 địa phận thôn Víp- xã MQ- huyện BV. Mặt đường trải nhựa phẳng, rộng 4,70m; giữa đường có vạch sơn đứt quãng. Đoạn đường này dốc, đỉnh dốc hướng MQ, chân dốc hướng Khánh Thượng. Ngay chân dốc là lối rẽ phải vào ngõ thôn Víp- xã MQ. Đầu lối rẽ rộng 7,2m, tâm lối rẽ cách trục trước bên phải xe ôtô BKS 29H-103.39 là 4,15m; Xe Ôtô sau tai nạn đỗ trên mặt đường, đầu hướng Khánh Thượng, đuôi hướng MQ; trục trước bên phải cách mép đường chuẩn là 2,2m; trục sau bên phải cách mép đường chuẩn là 1,88m.
Xe Mô tô BKS 51F2-9304 sau tai nạn nằm đổ nghiêng áp sườn phải xuống mặt đường nhựa trước đầu xe ôtô 29H-103.39, đầu xe hướng Khánh Thượng chếch chéo mép đường trái, đuôi xe hướng MQ chếch chéo mép đường phải. Trục trước xe Mô tô cách mép đường chuẩn là 3,95m và cách trục trước bên trái xe ô tô là 2m; trục sau cách mép đường chuẩn là 3,3m.
Các dấu vết trên hiện trường: Vết 1 là vết phanh kép màu đen trên mặt đường nhựa; được xác định do do hai bánh lốp sau bên phải xe ôtô 29H-103.39 tạo nên. Vết có chiều hướng MQ đi Khánh Thượng, từ lê đường phải chếch chéo lề đường trái; vết có diện 15,4 x 0,52m. Tâm đầu vết cách mép đường chuẩn là 0,7m; tâm cuối vết cách mép đường chuẩn là 2,15m.
Vết 2 là vết phanh đơn màu đen trên mặt đường nhựa; được xác định do bánh lốp trước bên phải xe ôtô 29H-103.39 tạo nên. Vết có chiều hướng như vết 1 và có diện 11,7 x 0,25m. Tâm đầu vết cách mép đường chuẩn là 1,2m và cách tâm đầu vết 1 là 1,43m; tâm cuối vết cách mép đường chuẩn là 2,38m.
Vết 3 là vết phanh đơn màu đen trên mặt đường, được xác định do bánh lốp trước bên trái xe ôtô 29H-103.39 tạo nên. Vết có chiều hướng từ MQ đi Khánh Thượng, từ tim đường chếch chéo sang lề đường trái; có diện 12,1 x 0,23m. Tâm đầu vết cách mép đường chuẩn là 3,15m và cách tâm vết 1 là 7,40m; tâm cuối vết cách mép đường chuẩn là 4,32m.
Vết 4 là vết cày liền trên mặt đường, được xác định do đầu ngoài bàn để chân phía trước bên phải của xe môtô 51F2-9304 tạo nên. Vết có chiều hướng MQ đi Khánh Thượng và có diện 2,65 x 0,01m. Đầu vết cách mép đường chuẩn là 3,70m và cách tâm đầu vết 3 là 10,80m; cuối vết nằm đầu ngoài bàn để chân phía trước bên phải xe môtô 51F2-9304, cách mép đường chuẩn là 3,70m.
Kết quả khám nghiệm tử thi (bút lục số 69, 70,71,72), khám phương tiện (bút lục số 36, 37, 38, 39) phù hợp với kết quả khám nghiệm hiện trường và lời khai của Đinh Công Đ cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án; thể hiện: Xe ôtô BKS 29H-103.39 do Đinh Công Đ điều khiển đã va chạm với xe môtô BKS 51F2-9304 do ông Nguyễn Văn Th điều khiển ở phần đường bên trái theo hướng đi của Đ. Sau vụ tai nạn giao thông xảy ra, ông Th được đưa đi cấp cứu tại BV QY 105, nhưng do vết thương nặng, đã tử vong lúc 21 giờ cùng ngày 31/03/2019.
Đinh Công Đ đã vi phạm vào khoản 1 điều 9 luật giao thông đường bộ, trong đó quy định: “1- Người tham gia giao thông phải đi bên phải theo chiều đi của mình, đi đúng làn đường, phần đường quy định và phải chấp hành hệ thống báo hiệu đường bộ”.
Tuy nhiên ông Nguyễn Văn Th điều khiển xe mô tô từ đường nhánh ra đường chính. Lẽ ra ông Th phải nhường đường cho xe đang đi trên đường chính đến, nhưng ông Th đã không nhường đường, để xảy ra vụ TNGT trên. Hành vi của ông Th vi phạm vào khoản 3 điều 24 luật giao thông đường bộ; nhưng sau tai nạn ông Th đã tử vong, nên không xem xét.
Về dân sự: Sau vụ tai nạn giao thông xảy ra, Đinh Công Đ cùng gia đình, đã đến lo mai táng phí và hỗ trợ cho gia đình ông Th. Tổng số là 65 triệu đồng. Gia đình bị hai mà đại diện là anh Nguyễn Văn Hùng- con trai ông Th đã nhận và không yêu cầu và đề nghị thêm gì, đồng thời đã có đơn xin giảm nhẹ cho Đinh Công Đ.
Về vật chứng: 01 xe mô tô BKS 51F2-9304 và 01 xe ô tô BKS 29H-103.39. Sau khi điều tra làm rõ, Cơ quan CSĐT Công An huyện BV đã trả lại cho chủ sở hữu.
Tại bản cáo trạng số 91/CT-VKS ngày 13/9/2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện BV, thành phố HNtruy tố bị cáo Đinh Công Đ về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, theo Điểm a khoản 1 Điều 260- BLHS năm 2015.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 85/2019/HS-ST ngày 08 tháng 10 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện BV, thành phố HNđã xử bị cáo Đinh Công Đ 15 (mười năm) tháng tù. Thời hạn tù kể từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
Ngoài ra bản án còn tuyên về xử lý tang vật, án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 11/10/2019 bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa:
Bị cáo vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, thừa nhận các hánh vi phạm tội do mình thực hiện dúng như bản án sơ thẩm đã xét xử, không thắc mắc kêu oan chỉ xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.
Đại diện gia đình bị hại có ý kiến xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; gia đình bị cáo khó khăn, là lao động chính, gia đình bị hại đã nhận bị cáo là con nuôi là người trong nhà, đề nghị cho bị cáo hưởng án treo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố HNphát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
Về hình Thc: Bị cáo Đinh Công Đ nộp đơn kháng cáo trong thời hạn Luật định nên đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm chấp nhận giải quyết yêu cầu kháng cáo của bị cáo theo trình tự phúc thẩm.
Về nội dung: Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự là đúng người đúng tội. Toà án cấp sơ thẩm khi xét xử đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Tại phiên toà phúc thẩm, đại diện gia đình bị hại có ý kiến việc bị cáo gây tai nạn có lỗi 1 phần của bố bị hại là đã uống rượu và đồng thời đề nghị cho bị cáo được hưởng án treo. Bị cáo thành khẩn khai báo, chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo dân tộc Mường, đã bồi thường đầy đủ và gia đình bị hại xin giảm nhẹ. Đề nghị HĐXX sửa bản án sơ thẩm và tuyên bị cáo 9-12 tháng tù giam. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đề nghị giữ nguyên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hình Thc:
Đơn kháng cáo của bị cáo Đinh Công Đ nộp trong thời hạn Luật định nên hợp lệ, được chấp nhận xem xét, giải quyết yêu cầu kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm.
Về nội dung:
Căn cứ lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên toà sơ thẩm, cũng như tại phiên toà phúc thẩm và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận:
Vào hồi 15 giờ 30 phút ngày 31/03/2019, xảy ra vụ tai nạn giao thông đường bộ trên đường tỉnh lộ 415 Đá Chông đi Khánh Thượng, địa phận thôn Víp - xã MQ-huyện BV, giữa xe ôtô BKS 29H-103.39 do Đinh Công Đ điều khiển, theo hướng Đá Chông đi Khánh Thượng với xe môtô BKS 51F2-9304 do Ông Nguyễn Văn Th điều khiển sang đường từ ngõ thôn Víp ra tỉnh lộ 415 để đi theo hướng Đá Chông. Hậu quả là Ông Nguyễn Văn Th bị tử vong, hai phương tiện ô tô và xe máy bị hư hỏng nhẹ.
Bị cáo có giấy phép lái xe (có trong hồ sơ) hạng C do Sở GTVT tỉnh Hòa Bình cấp ngày 22/4/2019, nhưng điều khiển xe ô tô khi gặp xe ông Th trong ngõ đi ra đã khong làm chủ tốc độ, lán trái, tránh không đúng làn đường, phần đường qui định gây tai nạn. Hành vi của bị cáo Đinh Văn Đ đã vi phạm khoản 1 Điều 9 Luật giao thông đường bộ quy định: “1- Người tham gia giao thông phải đi bên phải theo chiều đi của mình, đi đúng làn đường, phần đường quy định và phải chấp hành hệ thống báo hiệu đường bộ” và phạm vào tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự 2015 như bản án Tòa án cấp sơ thẩm đã kết tội. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, xâm phạm trực tiếp đến trật tự công cộng, gây tổn hại tính mạng người khác.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo là người dân tộc thiếu số, trình độ hiểu biết về pháp luật còn bị hạn chế; bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 65 triệu đồng. Toà án sơ thẩm đã xác định đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại s, b khoản 1, khoản 2 Điều 51 – BLHS 2015 là hoàn toàn phù hợp.
Tại phiên toà phúc thẩm, đại diện gia đình bị hại trình bày việc bị cáo gây tai nạn là có 1 phần lỗi của bị hại là tuổi bị hại đã cao và trước khi điều khiển xe máy có uống rượu. Xét bị cáo là lao động chính, có hoàn cảnh khó khăn, gia đình có thân nhân được thưởng huân huy chương, gia đình có nhiều liệt sỹ, bà nội là Bà Mẹ Việt Nam anh hùng là người có công với cách mạng có xác nhận của chính quyền địa phương ( xuất trình tại cấp phúc thẩm). Xét thấy bị cáo phạm tội lần đầu, có nơi cư trú rõ ràng thì có đủ các điều kiện quy định tại nghị quyết của Hội đồng thẩm phán về án treo nên việc áp dụng hình phạt tù giam là không C thiết, cho bị cáo được cải tạo tại xã hội dưới sự giám sát của chính quyền địa phương cũng đủ tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ các tình tiết vụ án, tính chất hành vi phạm tội và nhân thân bị cáo, thái độ khai báo thành khẩn để xét xử với mức hình phạt 15 tháng tù là phù hợp. Do đó HĐXX phúc thẩm thấy không C thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội nên giữ nguyên hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.
Bởi các phân tích trên, hội đồng xét xử thấy có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo. Do chấp nhận kháng cáo nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo qui định.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo kháng nghị có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự .
Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.
Xử:
I. Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Đinh Công Đ.
II. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 85/2019/HS-ST ngày 08 tháng 10 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện BV, thành phố HN;
Tuyên bố: Đinh Công Đ phạm tội“Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 260; Điều 38; Điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử phạt: Bị cáo Đinh Công Đ 15 (mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo; thời hạn thử thách 30 (ba mươi) tháng kể từ ngày tuyên án là ngày 14/01/2020.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Giao Đinh Công Đ cho UBND xã TX, huyện TT, thành phố HNgiám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo khoản 1 điều 69 Luật thi hành án hình sự.
III. Về án phí: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
IV. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
V. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân huyện BV; - VKSND thành phố HN; - VKSND huyện BV; - Công an huyện BV; - Chi cục THADS huyện BV; - Những người tham gia tố tụng; -Trung tâm lý lịch tư pháp quốc gia – Bộ Tư Pháp - Lưu HS vụ án. | THAY MẶT HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Đình T |