vanban.org

Bản án 24/2020/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Ninh Bình Tuyên án 02/07/2020 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 02/07/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo Nguyễn Thị Thu H đã nộp số tiền 200.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị. Án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị Thu H phạm tội Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo Nguyễn Thị Thu H đã nộp số tiền 200.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2020/HS-PT
Ngày 02 - 7 - 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Thảo

Các Thẩm phán:

Ông Tô Văn Thịnh

Ông Nguyễn Đức Hiệp

- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Thu Giang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Như Quỳnh - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 26 tháng 6 năm 2020 và ngày 02 tháng 7 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 14/2020/TLPT-HS ngày 27 tháng 3 năm 2020 đối với bị cáo Nguyễn Thị Thu H do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 20/2020/HS-ST ngày 20 tháng 02 năm 2020 của Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Ninh Bình.

Bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1974 tại thành phố B, tỉnh Ninh Bình; Nơi cư trú số nhà …., đường Đ, phố T, phường N, thành phố B, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp công nhân nhà máy điện Ninh Bình; trình độ văn hóa 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Minh N và bà Tống Thị B; có chồng Phạm Văn H và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Tại bản án số: 100/2019/HS-ST ngày 17/9/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình xử phạt Nguyễn Thị Thu H 25.000.000 đồng về tội “Đánh bạc”; Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” (có mặt).

- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị Thu Hiền theo yêu cầu: Ông Trương Đình T - Luật sư Công ty Luật TNHH MTV T.A thuộc Đoàn luật sư tỉnh Ninh Bình. Địa chỉ: Số …, đường M, phường Đ, thành phố B, tỉnh Ninh Bình (có mặt).

- Ngoài ra trong vụ án còn có 01 bị cáo không có kháng cáo và không bị kháng cáo, không bị kháng nghị Tòa án triệu tập: Bị cáo Nguyễn Mạnh C - sinh năm 1994; nơi cư trú: Số nhà …, đường Đ, phố T, phường N, thành phố B, tỉnh Ninh Bình (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 03/6/2019, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B, tỉnh Ninh Bình triệu tập Nguyễn Thị Thu H để làm việc liên quan đến hành vi mua số lô, số đề trong vụ án Phạm Thị N phạm tội “Đánh bạc”. Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Thị Thu H đã tự nguyện giao nộp 01 điện thoại hiệu Samsung Galaxy J4+ lắp sim 0912……, sim 0901…… và khai nhận về hành vi đánh bạc bằng hình thức xóc đĩa trên mạng Internet từ ngày 13/5/2019 đến ngày 29/5/2019. Căn cứ lời khai của Nguyễn Thị Thu H, cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B, tỉnh Ninh Bình đã triệu tập Nguyễn Mạnh C để làm việc. Ngày 03/6/2019, tại Cơ quan điều tra, C cũng đã tự giác giao nộp chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình:

Nguyễn Thị Thu H và Nguyễn Mạnh C có quan hệ hàng xóm với nhau. Qua nói chuyện, Nguyễn Thị Thu H biết Nguyễn Mạnh C có cung cấp tài khoản đánh bạc bằng hình thức xóc đĩa trên mạng Internet nên H nhờ C lấy cho H 01 tài khoản chơi xóc đĩa trên mạng, C đồng ý. Do có quen biết với người thanh niên tên T1 quê ở thành phố Hà Nội (C không rõ lai lịch, địa chỉ cụ thể) và được T1 giới thiệu có cung cấp tài khoản xóc đĩa trên mạng, nếu C giới thiệu khách chơi thì T1 sẽ cắt phần trăm hoa hồng. Ngày 11/5/2019, sau khi H nhờ C lấy 01 tài khoản đánh bạc xóc đĩa trên mạng Internet cho H thì C sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 lắp sim 0947……. của mình gọi điện cho T1 theo số điện thoại 0942……. để lấy 01 tài khoản xóc đĩa trên mạng “Lvs788.com”. T1 đồng ý, sau đó nhắn tin thông tin tài khoản có tên đăng nhập là “At87b10068”, mật khẩu là “123456”. C sao chép tin nhắn chuyển cho Nguyễn Thị Thu H qua số điện thoại 0912…… lắp trên điện thoại hiệu Samsung Galaxy J4+ của H. Sau khi nhận được tài khoản đánh bạc do C chuyển đến, trong các ngày 11/5/2019, ngày 12/5/2019 và ngày 13/5/2019, H nhiều lần đăng nhập vào tài khoản nhưng không được thì gọi điện cho C để kiểm tra lại tài khoản. C gọi điện cho T1, sau đó T1 lại đọc tài khoản đúng là “at87b16800” mật khẩu “123456” rồi C chuyển lại cho H. Sau khi có tài khoản H đăng nhập vào tài khoản để chơi thì thấy không có tiền trong tài khoản nên H báo lại cho C. C báo lại cho T1 thì T1 nạp 300 đô (USD) vào tài khoản của H. Các bên thống nhất cách thức quy đổi và thanh toán tiền thắng thua như sau: 01 đô (USD) dùng để đánh bạc quy đổi thành 20.000 đồng. Sau khi Nguyễn Thị Thu H được người cung cấp tài khoản nạp tiền vào tài khoản đánh bạc thì H sẽ sử dụng số tiền đô trong tài khoản được nạp để đánh bạc. Trường hợp H chơi thua hết số tiền trong tài khoản mạng thì H phải thanh toán số tiền thật mà trước đây đã nạp vào tài khoản, sau đó C có trách nhiệm thanh toán với T1 để hưởng hoa hồng; trường hợp H thắng bạc thì C sẽ lấy tiền của T1 để thanh toán với H.

Cách thức Nguyễn Thị Thu H đánh bạc bằng hình thức xóc đĩa trên mạng Internet như sau: H sử dụng điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J4+ lắp sim 0912……. truy cập vào ứng dụng Chrome. Trên thanh địa chỉ H nhập địa chỉ trang web “lvs788.com” sau đó tại phần tên đăng nhập H nhập tên tài khoản “At87b16800” và mật khẩu “123456” rồi bấm nút đăng nhập. Tại phần màn hình hiển thị các trò chơi có thể cá cược như: Xóc đĩa A, xóc đĩa B, xóc đĩa C và xóc đĩa D sau đó bấm nút “play now” và tiến hành chọn những cửa chẵn - lẻ và số tiền cược mình mong muốn chơi. Luật chơi xóc đĩa cụ thể: Có 04 quân vị hình tròn có 02 mặt gồm màu trắng và đỏ, người của nhà mạng sẽ đặt 04 quân vị vào đĩa sứ màu trắng và úp 01 chiếc bát lên trên sau đó tiến hành xóc đĩa. Sau khi xóc đĩa xong thì đồng hồ đếm ngược 50 giây. Trong thời gian này, người chơi phải chọn cửa và số tiền mong muốn, sau khi đặt cược xong người của nhà mạng mở bát lên, kết quả có thể “Lẻ” hoặc “Chẵn” cụ thể: “Lẻ” là số quân vị màu đỏ và trắng đều là số lẻ, gồm: 01 đỏ, 03 trắng hoặc 01 trắng, 03 đỏ; “Chẵn” là số quân vị màu đỏ và chẵn đều là số chẵn, gồm: 02 trắng, 02 đỏ hoặc 04 trắng, 04 đỏ. Nếu người chơi chọn đúng cửa chẵn, lẻ như trên thì sẽ được hưởng 96% số tiền đã đặt cược. Ngoài ra, nếu người đặt chẵn - lẻ và lựa chọn đúng số lượng quân vị trắng, quân vị đỏ thì sẽ được hưởng số tiền gấp 2,7 lần số tiền đã đặt cược. Bên cạnh đó, nếu người chơi đặt cược đúng cửa chẵn và chính xác số quân vị là 04 trắng hoặc 04 đỏ thì sẽ được hưởng số tiền gấp 11 lần số tiền đã đặt cược. Tuy nhiên nếu người chơi đặt sai số cửa chẵn lẻ thì sẽ mất toàn bộ số tiền đã cược.

Với cách chơi như trên, Nguyễn Thị Thu H đã sử dụng điện thoại di động có kết nối Internet của mình để đánh bạc tại nhà bị cáo. Từ ngày 13/5/2019 đến ngày 16/5/2019 bị cáo thua hết số tiền 300 đô (USD) tương đương với 6.000.000 đồng. Ngày 16/5/2019, H đã thanh toán số tiền 6.000.000 đồng cho Nguyễn Mạnh C. Sau đó H lại yêu cầu C nạp thêm 100 đô (USD) tương đương 2.000.000 đồng, C đồng ý và báo lại cho T1 để nạp tiền. Đến ngày 21/5/2019, H chơi thua hết số tiền 100 đô (USD) đã nạp lần thứ hai. Ngày 21/5/2019, H thanh toán cho C số tiền 2.000.000 đồng. Sau đó H lại bảo C nạp thêm 1000 đô (USD) tương đương với số tiền 20.000.000 đồng, C đồng ý và báo cho T1 để nạp tiền. Đến ngày 23/5/2019, H chơi thua hết số tiền 994 đô (USD) tương đương với số tiền 19.880.000 đồng và ngày 29/5/2019 H chơi thua nốt 6 đô (USD) tương đương với số tiền 120.000 đồng. Ngày 01/6/2019, H đã thanh toán cho C số tiền 15.000.000 đồng và nợ lại 5.000.000 đồng.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 20/2020/HS-ST ngày 20 tháng 02 năm 2020 Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Ninh Bình đã xét xử và quyết định: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Thu H phạm tội “Đánh bạc”.

Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 321, các điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 54 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thu H 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về tội danh và hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Mạnh C, xử lý vật chứng, án phí hình sự sơ thẩm, quyền kháng cáo cho các bị cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 02/3/2020 bị cáo có đơn kháng cáo xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa, bị cáo vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo với lý do mức hình phạt mà Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Ninh Bình tuyên phạt là quá nặng chưa xem xét áp dụng hết các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Ngoài ra bị cáo còn so sánh hành vi tổ chức đánh bạc của bị cáo Nguyễn Mạnh C được hưởng án treo, trong khi bị cáo là người đánh bạc lại bị xử phạt tù. Bị cáo còn cho rằng trong vụ án còn có người tên là D (em trai C) tham gia tổ chức đánh bạc. Quá trình điều tra anh T2 là cán bộ điều tra đã đưa hai bản cung chưa viết gì yêu cầu bị cáo ký vào đó. Cách ngày mở phiên tòa sơ thẩm khoảng 3, 4 ngày bị cáo được anh Nguyễn Ngọc L là Kiểm sát viên gọi lên đổi bản cáo trạng khác. Vụ án có hai bản kết luận điều tra và hai bản cáo trạng khác nhau mà bị cáo đã giao nộp cho Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình trước khi xét xử phúc thẩm.

Người bào chữa cho bị cáo trình bày: Về tội danh như bản án sơ thẩm đã xét xử đối với bị cáo là có căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét ngoài việc áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng cần áp dụng cho bị cáo được hưởng thêm các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm a, b, h, t, u, v khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Khi bị cáo đang bị điều tra về hành vi đánh bạc với Phạm Thị N thì bị cáo đã đầu thú về hành vi đánh bạc nêu trên nhưng cơ quan điều tra đã không căn cứ vào Điều 170 Bộ luật tố tụng hình sự để nhập vụ án, gây bất lợi cho bị cáo. Theo quy định tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo thì bị cáo Nguyễn Thị Thu H đủ điều kiện được hưởng án treo. Và Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét nếu nhẹ thì trả hồ sơ để điều tra bổ sung vì phát hiện có đồng phạm khác. Nếu nặng thì hủy bản án sơ thẩm để điều tra, xét xử lại vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình tại phiên tòa phúc thẩm sau khi phân tích, đánh giá tính chất của vụ án, mức độ nguy hiểm cho xã hội do hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Thu H, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 20/2020/HS-ST ngày 20 tháng 02 năm 2020 của Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Ninh Bình.

Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 321; các điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 54 Bộ luật Hình sự, xử phạt: bị cáo Nguyễn Thị Thu H 24 (Hai mươi bốn) tháng tù về tội “Đánh bạc”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.

Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo đã nộp số tiền 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để thi hành xong khoản tiền án phí hình sự sơ thẩm theo bản án hình sự sơ thẩm số 20/2020/HS-ST ngày 20 tháng 02 năm 2020 của Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Ninh Bình tại biên lai thu tiền số AA/2019/0000184 ngày 06/3/2020 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố B, tỉnh Ninh Bình.

Bị cáo phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Thu H làm trong thời hạn luật định nên được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung bản án sơ thẩm đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo Nguyễn Mạnh C, biên bản kiểm tra điện thoại, biên bản khai thác dữ liệu điện tử và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Ngày 11/5/2019, trên địa bàn thành phố B, tỉnh Ninh Bình, Nguyễn Mạnh C có hành vi cung cấp tài khoản đánh bạc bằng hình thức xóc đĩa trên trang mạng “lvs788.com” cho Nguyễn Thị Thu H. Từ ngày 13/5/2019 đến ngày 29/5/2019, Nguyễn Thị Thu H đã sử dụng tài khoản “At87b16800” với mật khẩu “123456” tự truy cập vào trang mạng để thực hiện hành vi đánh bạc bằng hình thức xóc đĩa. Ngày 13/5/2019, Nguyễn Thị Thu H sử dụng tài khoản trên truy cập trang mạng “lvs788.com” để đánh bạc với tổng số tiền là 300 đô (USD) tương đương 6.000.000 đồng. Sau đó, ngày 21/5/2019 đến ngày 29/5/2019, Nguyễn Thị Thu H tiếp tục sử dụng tài khoản trên để thực hiện hành vi đánh bạc bằng hình thức xóc đĩa với tổng số tiền là 1000 đô (USD) tương đương 20.000.000 đồng.

Với hành vi phạm tội nêu trên Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội “Đánh bạc” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Xét kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo Hội đồng xét xử xét thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự công cộng, gây tâm lý bất bình trong dư luận quần chúng nhân dân. Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đánh giá đúng tính chất của vụ án, áp dụng đúng và đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ xử phạt bị cáo với mức hình phạt 24 tháng tù là phù hợp, không nặng. Trong quá trình chuẩn bị xét xử phúc thẩm bị cáo xuất trình đơn xác nhận có nội dung bị cáo là lao động chính trong gia đình, hiện đang nuôi con nhỏ; có bố mẹ đẻ, bố mẹ chồng tuổi đã cao và thường xuyên đau ốm; bản thân bị cáo cũng thường xuyên đau ốm vì bị bệnh tiểu đường, huyết áp cao có xác nhận của chính quyền địa phương là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên các tình tiết giảm nhẹ mới nêu trên không làm thay đổi mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo bởi lẽ bị cáo có nhân thân xấu, phạm tội hai lần trở lên nên không đủ điều kiện được xem xét để cho hưởng án treo. Do vậy kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo là không có căn cứ chấp nhận cần giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 20/2020/HS-ST ngày 20 tháng 02 năm 2020 của Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Ninh Bình về phần hình phạt đã tuyên đối với bị cáo.

Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo đã nộp số tiền 200.000 đồng để thi hành xong khoản tiền án phí hình sự sơ thẩm theo bản án hình sự sơ thẩm số 20/2020/HS-ST ngày 20 tháng 02 năm 2020 của Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Ninh Bình theo biên lai thu tiền số AA/2019/0000184 ngày 06/3/2020 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố B, tỉnh Ninh Bình.

Đối với các ý kiến mà bị cáo đã nêu ra và cho rằng đó là những sai phạm của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B và Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Ninh Bình và quan điểm bào chữa của Luật sư nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy: Ngày 10/6/2020 Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình nhận được hai bản kết luận điều tra đều ghi số 02/CSĐT ngày 18/12/2019 và hai bản cáo trạng đều ghi số 11/CT-VKS ngày 15/01/2020 (tất cả là bản phô tô) do bị cáo trực tiếp nộp. Trong hai bản kết luận điều tra và hai bản cáo trạng nêu trên thì 01 bản kết luận điều tra và 01 bản cáo trạng giống bản chính đã lưu trong hồ sơ vụ án. Đối với bản kết luận điều tra và bản cáo trạng còn lại, ngày 12,13/6/2020 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B và Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Ninh Bình đã có văn bản giải trình số 317/CSĐT và số 22/CV-VKS với nội dung trong quá trình soạn thảo do sơ xuất nên có sai sót. Ngay sau khi phát hiện ra sai sót thì Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát đã chỉnh sửa lại kết luận điều tra, bản cáo trạng và giao lại ngay trong ngày ban hành. Bị cáo đã nhận lại và không có ý kiến, đề nghị gì (thể hiện trong biên bản giao nhận).

Ngày 26/6/2020 Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình đã mở phiên tòa xét xử phúc thẩm xét xử đối với bị cáo Nguyễn Thị Thu H. Tại phiên tòa bị cáo và Luật sư bào chữa cho bị cáo đều đề nghị Hội đồng xét xử tạm dừng phiên tòa để triệu tập Điều tra viên, cán bộ điều tra và Kiểm sát viên trực tiếp giải quyết vụ án để làm rõ một số vấn đề. Sau khi xem xét yêu cầu của bị cáo và Luật sư, Hội đồng xét xử quyết định tạm ngừng phiên tòa để triệu tập Điều tra viên, cán bộ điều tra và Kiểm sát viên trực tiếp giải quyết vụ án.

Ngày 02/7/2020 Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án. Tại phiên tòa có mặt Điều tra viên, cán bộ điều tra và Kiểm sát viên đều khẳng định nội dung mà hai cơ quan đã giải trình nêu trên là đúng. Điều tra viên, cán bộ điều tra và Kiểm sát viên đều khẳng định không có căn cứ xác định có D (em trai C) cùng tham gia tổ chức đánh bạc như bị cáo khai báo, không có việc đưa bản cung trắng để bị cáo ký vào. Việc đổi kết luận điều tra và bản cáo trạng được đổi ngay ngày giao cho bị cáo, sau khi phát hiện có sai sót chứ không có việc như bị cáo trình bày. Ngoài lời trình bày của bị cáo nêu trên, bị cáo không đưa ra được chứng cứ nào để chứng minh nên những ý kiến mà bị cáo nêu ra là không có căn cứ để chấp nhận. Đối với quan điểm bào chữa của Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng thêm 6 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự và cho bị cáo được hưởng án treo. Đối chiếu với các quy định của pháp luật và hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo thì không có căn cứ để áp dụng cho bị cáo được hưởng thêm các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự và không đủ điều kiện để cho bị cáo được hưởng án treo như Luật sư đề nghị là không có căn cứ để chấp nhận. Đối với yêu cầu Luật sư đề nghị trả hồ sơ điều tra bổ sung, căn cứ quy định tại Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định về thẩm quyền của Hội đồng xét xử phúc thẩm đối với bản án sơ thẩm thì không có quy định về việc thẩm quyền của Hội đồng xét xử phúc thẩm được trả hồ sơ để điều tra bổ sung. Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình tranh tụng công khai tại phiên tòa có đủ căn cứ để xác định cấp sơ thẩm không vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, không bỏ lọt tội phạm cho nên yêu cầu Luật sư đề nghị hủy bản án sơ thẩm để điều tra, xét xử lại cũng không có căn cứ để chấp nhận.

Về án phí hình sự phúc thẩm: Yêu cầu kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Thu H không được chấp nhận nên bị cáo phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Thu H, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số: 20/2020/HS-ST ngày 20 tháng 02 năm 2020 của Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Ninh Bình.

Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 321; các điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 54 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Thu H 24 (Hai mươi bốn) tháng tù về tội “Đánh bạc”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.

Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo Nguyễn Thị Thu H đã nộp số tiền 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) để thi hành xong khoản tiền án phí hình sự sơ thẩm theo bản án hình sự sơ thẩm số 20/2020/HS-ST ngày 20 tháng 02 năm 2020 của Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Ninh Bình theo biên lai thu tiền số AA/2019/0000184 ngày 06/3/2020 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố B, tỉnh Ninh Bình.

2. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

3. Án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, bị cáo Nguyễn Thị Thu H phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án 02/7/2020./.

Cỡ chữ