vanban.org

Bản án 24/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Căn cứ vào các Điều 28, Điều 35, Điều 147 và Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào các Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Căn cứ vào Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Căn cứ vào các Điều 28, Điều 35, Điều 147 và Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ SA ĐÉC
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2020/HNGĐ-ST.
Ngày: 11 - 8 - 2020.
V/v Tranh chấp ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC - TỈNH ĐỒNG THÁP

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quốc Danh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Nhàn.

2. Ông Phùng Hiếu Trung.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phấn - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Khanh - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 24 tháng 7 năm 2020 và ngày 11 tháng 8 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp; xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 101/2020/TLST-HNGĐ, ngày 05 tháng 5 năm 2020 về “Tranh chấp ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2020/QĐXXST-HNGĐ, ngày 07 tháng 7 năm 2020 và quyết định hoãn phiên tòa số: 10/2020/QĐST-HNGĐ, ngày 24 tháng 7 năm 2020 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị N - sinh năm: 1987.

Địa chỉ: tổ 02, ấp T, xã M, huyện C, tỉnh Bình Phước.

- Bị đơn: Anh D - sinh năm: 1979.

Địa chỉ: đường V, khóm H, Phường T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.

Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt; Bị đơn vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Quá trình tham gia tố tụng tại tòa án, nguyên đơn là chị N trình bày:

- Về hôn nhân: Chị N và anh D gặp gỡ, quen biết nhau vào năm 2008 và tiến tới hôn nhân vào tháng 8 năm 2013, có tổ chức đám cưới, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Minh Thắng, huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước vào ngày 19/8/2013. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc. Tuy nhiên từ đầu năm 2018, do anh D thường xuyên uống rượu bia, cờ bạc, gây nợ nần, về nhà thì kiếm chuyện gây gổ dẫn đến vợ chồng mâu thuẫn gay gắt. Từ đầu năm 2018 thì chị N và anh D sống ly thân cho đến nay, hiện chị N đã về nhà mẹ ruột ở Bình Phước sinh sống, còn anh D về quê mẹ ruột ở Sa Đéc sống. Từ khi ly thân đến nay, anh D không tới lui thăm chị N cũng không liên lạc điện thoại thăm hỏi, không có ý định hàn gắn tình cảm vợ chồng. Nay chị N nhận thấy tình cảm không còn, vợ chồng chung sống không có hạnh phúc. Do đó, chị N yêu cầu ly hôn anh D.

- Về nuôi con chung và nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Quá trình chung sống, có 01 con chung tên A - sinh ngày: 06/12/2014 (hiện đang sống với chị N). Khi ly hôn, chị N yêu cầu được quyền tiếp tục nuôi con chung. Chị N yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.

- Về chia tài sản chung và nợ chung: Chị N xác định là không có, không tranh chấp và không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Quá trình tham gia tố tụng tại tòa án, bị đơn là anh D vắng mặt không lý do nhưng có văn bản trình bày ý kiến: Hiện hoàn cảnh gia đình gặp khó khăn nên không thể cấp dưỡng cho cháu A với mức 2.000.000 đồng/tháng như chị N yêu cầu. Ngoài ra, anh D không trình bày ý kiến đối với các yêu cầu khởi kiện khác của nguyên đơn.

Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa:

- Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Quá trình tiến hành tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử và tại phiên tòa hôm nay; Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa cũng như các đương sự đều thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; riêng bị đơn là anh Nguyễn Hồng D không thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, Điều 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Đại diện Viện kiểm sát thống nhất với trình tự thủ tục tiến hành phiên tòa xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

- Về Hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị N.

- Về nuôi con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên giao cháu A - sinh ngày: 06/12/2014 (hiện đang sống với chị N) cho chị N được quyền tiếp tục nuôi dưỡng con chung sau khi ly hôn. Anh D có quyền, nghĩa vụ đến thăm nom con chung, không ai được cản trở.

- Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên buộc anh D phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung bằng 50% mức lương cơ sở do Nhà nước quy định cho đến khi cháu Bảo Anh đủ 18 tuổi.

- Về chia tài sản chung và nợ chung: Do chị N xác định là không có, không tranh chấp và không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

- Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn là chị N khởi kiện yêu cầu ly hôn anh D là loại vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc theo quy định tại khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Quá trình tham gia tố tụng: Nguyên đơn là chị N có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn là anh D đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng khác theo quy định của pháp luật nhưng vẫn vắng mặt không có lý do; do đó Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

Về nội dung, Hội đồng xét xử xét thấy:

- Về hôn nhân: Xét thấy chị N và anh D chung sống vợ chồng từ năm 2013, trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức đám cưới, có đăng ký kết hôn vào ngày 19/8/2013 tại UBND xã Minh Thắng, huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa chị N và anh D được xác định là hôn nhân hợp pháp.

Tuy nhiên, trong quá trình chung sống giữa chị N và anh D đã phát sinh nhiều mâu thuẫn do anh D thường xuyên uống rượu, cờ bạc, gây nợ nần, về nhà kiếm chuyện gây gổ với vợ con; nhiều lần chị N khuyên can nhưng anh D không nghe, không chịu sửa đổi. Từ đó, vợ chồng thường xuyên cự cãi, tình cảm ngày càng bị tổn thương, rạn nứt, không thể hàn gắn. Từ năm 2018, chị N dọn về nhà cha mẹ ruột ở Bình Phước sinh sống; vợ chồng sống ly thân từ năm 2018 đến nay. Trong thời gian này anh D vẫn không tới lui thăm nom con, không liên lạc điện thoại, không có ý định hàn gắn tình cảm vợ chồng và không quan tâm đến chị N. Từ năm 2018 đến nay, chị N và anh D đã không còn sống chung với nhau, vợ chồng không có sự quan tâm lẫn nhau.

Về phía anh D: Quá trình giải quyết vụ án; anh D đã nhận được đầy đủ các văn bản tố tụng do Tòa án tống đạt trực tiếp cho anh D theo quy định của pháp luật nhưng anh D vẫn không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu xin ly hôn của chị N (ngoài văn bản ý kiến trình bày về việc cấp dưỡng nuôi con chung sau khi ly hôn), không đến tham dự các buổi hòa giải cũng như phiên tòa hôm nay. Như vậy, anh D đã từ chối các quyền và nghĩa vụ của mình do pháp luật quy định. Bản thân anh D cũng không có thành ý mong muốn hàn gắn tình cảm với chị N nên đã không đến Tòa án để tham gia hòa giải, không cung cấp tài liệu chứng cứ để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.

Tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:

“1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được…”.

Trên cơ sở đó; Hội đồng xét xử xét thấy: Mâu thuẫn vợ chồng giữa chị N và anh D đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Nếu chị N và anh D đoàn tụ, tiếp tục chung sống thì cũng không có hạnh phúc. Do đó, chị N yêu cầu ly hôn anh D là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

- Về nuôi con chung và nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Khi ly hôn, chị N có yêu cầu được quyền tiếp tục nuôi con chung tên A - sinh ngày: 06/12/2014 (hiện đang sống với chị N). Chị N yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.

Tại khoản 1, khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình quy định:

“1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, ...

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”.

Hội đồng xét xử xét thấy, từ khi được sinh ra cho đến nay cháu Bảo Anh sống chung với chị N và anh D. Từ khi ly thân đến nay chị N đưa con về nhà cha mẹ ruột ở Bình Phước sinh sống, hiện cháu Bảo Anh đang có sống ổn định với chị N, được chị N và những người thân trong gia đình của chị N quan tâm, giúp đỡ, tạo mọi điều kiện thuận lợi trong quá trình nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục và dành nhiều tình thương cho cháu; hiện cháu A có sự phát triển tốt về thể chất và tinh thần. Phía anh D không có sự quan tâm chăm sóc cũng như phụ tiếp tiền bạc để chị N lo cho con. Vì vậy, để đảm bảo cho cháu A có cuộc sống ổn định và phát triển tốt về tâm sinh lý; Hội đồng xét xử xét thấy cần tiếp tục giao cháu Bảo Anh cho chị N trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung sau khi ly hôn là phù hợp với quy định của pháp luật và đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của cháu trong sinh hoạt, học tập. Anh D được quyền tới lui thăm nom con chung, không ai được quyền cản trở là phù hợp với quy định tại các Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình.

Tại khoản 3 Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình quy định:

“3. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở”.

- Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Hội đồng xét xử xét thấy việc cấp dưỡng nuôi con chung sau khi ly hôn là cần thiết, nhằm để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho cháu A nên buộc anh D phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung tên A - sinh ngày: 06/12/2014, mức cấp dưỡng hàng tháng bằng 50% mức lương cơ sở do Nhà nước quy định tại thời điểm thi hành án; thời gian cấp dưỡng được tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi cháu A đủ 18 tuổi.

Tại khoản 2 Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình quy định: “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con, có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con”.

- Về chia tài sản chung và nợ chung: Do chị N xác định là không có, không tranh chấp và không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt thành vấn đề xem xét giải quyết.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Các đương sự phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm (về ly hôn và cấp dưỡng nuôi con) theo quy định của pháp luật.

Đối với ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa: Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào các Điều 28, Điều 35, Điều 147 và Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ vào các Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ vào Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên Xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị N. Cho chị N ly hôn anh D.

2. Về nuôi con chung: Chị N được quyền trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung tên A - sinh ngày: 06/12/2014 (hiện đang sống với chị N).

- Anh D có quyền, nghĩa vụ đến thăm nom con chung, không ai được cản trở.

3. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Buộc anh D cấp dưỡng nuôi con chung sau khi ly hôn, mức cấp dưỡng hàng tháng bằng 50% mức lương cơ sở do Nhà nước quy định tại thời điểm thi hành án. Thời gian cấp dưỡng được tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi cháu A đủ 18 tuổi.

4. Về chia tài sản chung và nợ chung: Tòa án không xem xét giải quyết.

5. Về án phí: Chị N nộp 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng án phí dân sự sơ thẩm (về ly hôn). Số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng, chị N đã nộp ngày 05/5/2020 theo biên lai thu số 0000941 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sa Đéc được khấu trừ toàn bộ án phí phải nộp.

- Anh D nộp 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm (về cấp dưỡng nuôi con) tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Chị N và anh D vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo luật định./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ