vanban.org

Bản án 24/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND tỉnh Phú Thọ Tuyên án 15/05/2020 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Xử chị Phùng Thị L được ly hôn với anh Phạm Đức Q.

Về án phí: Chị Phùng Thị L phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào 300.000đ tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0003296 ngày 13/12/2019 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ. Các đương sự được quyền làm đơn kháng cáo để đề nghị Tòa án cấ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Xử chị Phùng Thị L được ly hôn với anh Phạm Đức Q.
  • Căn cứ chính? Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 15/5/2020
V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Hồ Văn Việt

Các hội thẩm nhân dân:

Bà Bùi Thị Hảo

Bà Nguyễn Thị Phẩm

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Thành Long - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan Anh - Kiểm sát viên trung cấp.

Ngày 15 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 108/2019/TLST- HNGĐ ngày 13/12/2019 về việc tranh chấp hôn nhân và gia đình.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2019/QĐST- HNGĐ ngày 28/2/2020 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Phùng Thị L, sinh năm 1995

ĐKHKTT: Khu 9, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ

Bị đơn: Anh Phạm Đức Q, sinh năm 1987

ĐKHKTT: Khu 9, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ.

Hiện đang ở Đài Loan

( Chị L có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Q vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn chị Phùng Thị L trình bày: Chị và anh Q kết hôn ngày 26/9/2017, đăng ký kết hôn tại UBND xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ trên cơ sở tự nguyện. Quá trình chung sống vợ cH phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ cH bất đồng quan điểm sống và không tìm được tiếng nói chung. Sau đó, anh Q đi làm việc tại Đài Loan, sau khi sang Đài Loan thì anh Q rất ít L lạc với chị L nên mâu thuẫn vợ cH ngày càng trầm trọng. Hiện nay chị L xác định không còn tình cảm với anh Q nên đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với anh Q.

Về con chung, tài sản chung, công sức công nợ chung: Chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Chị L trình bày hiện nay anh không biết địa chỉ của anh Q ở Đài Loan nên chị không thể cung cấp địa chỉ của anh Q tại Đài Loan cho Tòa án được. Chị L yêu cầu Tòa án xác minh địa chỉ của anh Q tại Đài Loan thông qua bố đẻ của anh Q là ông Phạm Đức H, sinh năm 1960 ở tại khu 9, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ

Thân nhân của anh Phạm Đức Q là ông Phạm Đức H trình bày:

Ông là bố đẻ của anh Q. Anh Q hiên đang ở Đài Loan. Anh Q vẫn thường xuyên gọi điện về cho ông. Tuy nhiên, anh Q chỉ nói với ông hiện đang ở Đài Loan nhưng không nói rõ cụ thể ở đâu nên ông không thể cung cấp địa chỉ của anh Q ở Đài Loan cho Tòa án được. Việc chị L, anh Q ly hôn là việc riêng của anh chị, ông không can thiệp. Ông Q đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật và đề nghị giải quyết vắng mặt ông.

T¹i phiên tòa, đại diện VKSND tỉnh Phú Thọ phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng, việc thu thập chứng cứ của Tòa án đã tiến hành theo đúng các quy định tại Bộ Luật tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án, đại diện VKSND tỉnh Phú Thọ đề nghị Tòa án cho chị Phùng Thị L được ly hôn với anh Phạm Đức Q. Về con chung, tài sản chung, công nợ chung: Do chị Phùng Thị L không yêu cầu nên không giải quyết.

Sau khi nghiên cứu các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nghe đương sự trình bày, sau khi nghe ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Nguyên đơn chị Phùng Thị L nộp đơn xin ly hôn anh Phạm Đức Q tại Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ. Trong đơn xin ly hôn, chị L trình bày hiện anh Q đang sống và làm việc tại Đài Loan. Tại văn bản số 133/QLXNC-P5 ngày 03/01/2020 của Cục quản lý xuất nhập cảnh - Bộ Công an xác nhận anh Phạm Đức Q đã xuất cảnh ngày 02/9/2019 và chưa nhập cảnh trở lại Việt Nam. Căn cứ khoản 3 Điều 35, Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền. Quan hệ tranh chấp được xác định trong vụ án là “tranh chấp hôn nhân và gia đình”.

Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Phùng Thị L và anh Phạm Đức Q là hôn nhân hợp pháp. Do vợ cH bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung, không có sự quan tâm chia sẻ trong cuộc sống gia đình nên tình cảm vợ chông phát sinh nhiều mâu thuẫn. Xét thấy tình cảm vợ cH không còn, không có khả năng đoàn tụ nên chị Phùng Thị L yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Phạm Đức Q.

Anh Phạm Đức Q hiện đang ở nước ngoài, chị Phùng Thị L chỉ cung cấp được địa chỉ nơi cư trú cuối cùng ở Việt Nam của anh Phạm Đức Q, không cung cấp được địa chỉ của anh Q ở nước ngoài cho Tòa án. Ông Phạm Đức H là bố đẻ của anh Phạm Đức Q xác nhận anh Q hiện đang ở Đài Loan, anh Q vẫn thường xuyên gọi điện cho ông nhưng không nói rõ địa chỉ cụ thể của anh Q tại Đài Loan nên ông không cung cấp được địa chỉ của anh Q ở Đài Loan cho Tòa án. Căn cứ công văn số 253/TANDTC – PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân tối cao đây là trường hợp bị đơn cố tình dấu địa chỉ, Tòa án giải quyết vụ án theo thủ tục chung.

Hội đồng xét xử xét thấy giữa chị L và anh Q mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên việc chị L yêu cầu ly hôn với anh Q là có căn cứ, được chấp nhận.

Về con chung, tài sản chung, công sức công nợ chung: Do chị Phùng Thị L không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.

Về án phí: Chị Phùng Thị L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 39 Bộ luật Dân sự; Điều 51; Điều 56; Điều 123 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; Điều 37; khoản 4 Điều 147, Điều 179, Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 26; điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH, quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: Xử chị Phùng Thị L được ly hôn với anh Phạm Đức Q.

2. Về án phí: Chị Phùng Thị L phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào 300.000đ tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0003296 ngày 13/12/2019 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ.

Các đương sự được quyền làm đơn kháng cáo để đề nghị Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án sơ thẩm hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ./.

Cỡ chữ