vanban.org

Bản án 24/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, nuôi con chung"
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Luật Phí và lệ phí
TOÀ!ÁN!NHÂN!DÂN!
HUYỆN!NINH!GIANG!
TỈNH!HẢI!DƯƠNG!

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 22/12/2020
“ Về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con”

NHÂN!DANH!

NƯỚC!CỘNG!HOÀ!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!

TOÀ!ÁN!NHÂN!DÂN!HUYỆN!NINH!GIANG!-!TỈNH!HẢI!DƯƠNG!

Thành!phần!Hội!đồng!xét!xử!(HĐXX)!sơ!thẩm!gồm!có:!

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hà Xuân Trường.!

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Duy Tuần và bà Phạm Thị Tuẫn.

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Văn Mạnh.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân (VKSND) huyện Ninh Giang tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Yến - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 12 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 142/2020/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 7 năm 2020 về tranh chấp Hôn nhân - gia đình, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2020/QĐST-HNGĐ ngày 12/11/2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 16/2020/QĐST - HNGĐ, ngày 10/12/2020, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Dương Thị H, sinh năm 1983 - HKTT: Số 138, phố C, quận Đ, thành phố Hà Nội - Có đơn xin xét xử vắng mặt.

Bị đơn: Anh Bùi Minh S, sinh năm 1981 - ĐKHK: Thôn 2, xã T, huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương - Vắng mặt.

NỘI!DUNG!VỤ!ÁN!

Theo đơn khởi kiện và các tài liệu có trong hồ sơ, chị Dương Thị H trình bày: Chị và anh Bùi Minh S kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương vào ngày 06/11/2013. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn do anh S không chung thủy, không quan tâm đến vợ con, gia đình, mặc dù được mọi người phân tích, hòa giải nhưng anh S không cải sửa. Do không có hạnh phúc gia đình nên từ tháng 12/2019 anh S bỏ đi sống ly thân mỗi người một nơi. Nay chị xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, tình cảm không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Bùi Minh S. Về con chung: Chị H xác định vợ chồng có 02 con chung là Bùi Dương Gia H, sinh ngày 06/3/2015 và Bùi Dương Khánh H, sinh ngày 23/9/2019, hiện nay hai con chung do chị trực tiếp nuôi dưỡng. Ly hôn chị xin được tiếp tục nuôi hai

1

con chung và tự nguyện không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh Bùi Minh S cố tình vắng mặt nên Tòa án không làm việc được.

Theo ông Bùi Minh H là bố đẻ anh S trình bày: Anh S và chị Hkết hôn hợp pháp, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T. Sau khi kết hôn vợ chồng anh S làm ở thành phố Hà Nội. Do chị H nghi ngờ anh S không chung thủy nên hai bên xảy ra mâu thuẫn, vợ chồng sống ly thân từ khoảng tháng 12/2019 cho đến nay mỗi người một nơi, hiện nay anh S làm nghề lái xe và thuê nhà ở tại thành phố Hà Nội. Sau khi nhận được các tài liệu của Tòa án liên quan đến yêu cầu xin ly hôn của chị H, ông đã thông báo cho anh S được biết, anh S có nói việc của anh để tự anh giải quyết mà không có ý kiến gì về yêu cầu khởi kiện của chị H. Gia đình cũng đã khuyên bảo, hòa giải nhưng không có kết quả. Hiện nay tình trạng mâu thuẫn giữa hai bên đã rất trầm trọng, cả hai bên không có ý thức hàn gắn, hòa giải, do vậy đề nghị Tòa án giải quyết quan hệ hôn nhân của hai bên theo quy định của pháp luật. Về con chung: Chị H và anh S có 02 con chung là Bùi Dương Gia H, sinh ngày 06/3/2015 và Bùi Dương Khánh H, sinh ngày 23/9/2019, hiện hai con chung do chị đang trực tiếp nuôi dưỡng. Đề nghị Tòa án xem xét giao cho mỗi bên nuôi một con chung. Về tài sản chung, nợ chung: Hai bên không có. Trường hợp anh S vắng mặt không đến Tòa án thì đề nghị Tòa án giao kết quả giải quyết cho gia đình, ông Hcam kết sẽ thông báo và giao lại cho anh S được biết.

Đại diện VKSND huyện Ninh Giang phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã đảm bảo đúng các thủ tục tố tụng, nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật, bị đơn cố tình vắng mặt không tham gia tố tụng tại Tòa án. Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX căn cứ Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 ; Điều 227; Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử cho chị Dương Thị H được ly hôn anh anh Bùi Minh S.Về con chung: Xử giao con Bùi Dương Gia H, sinh ngày 06/3/2015 và Bùi Dương Khánh H, sinh ngày 23/9/2019 cho chị Dương Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi trưởng thành. Chấp nhận sự tự nguyện của chị H không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản: Đương sự không yêu cầu nên không đặt ra

2

giải quyết. Về án phí: Chị Dương Thị H phải chịu án phí sơ thẩm ly hôn theo quy định.

NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN!

[1] Về tố tụng: Nguyên đơn, chị Dương Thị Hcó đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Bị đơn, anh Bùi Minh S đã được gia đình thông báo cho biết các tài liệu tố tụng của Tòa án nhưng cố tình vắng mặt, không đến tham gia các buổi làm việc cũng như tham gia tố tụng tại phiên tòa. Do vậy, HĐXX xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 227; Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào lời khai của chị Dương Thị H phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có cơ sở xác định chị H và anh S có đăng ký kết hôn ngày 06/11/2013, tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương, đây là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng phát sinh mâu thuẫn vì chị H nghi ngờ anh S không chung thủy, chị và gia đình đã khuyên ngăn nhưng anh S không cải sửa tính nết, vì thế hai bên đã sống ly thân nhau từ tháng 12/2019 cho đến nay. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập anh S để tiến hành hòa giải và tham gia phiên tòa, nhưng anh S đều cố tình vắng mặt, điều đó chứng tỏ anh S không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng. Xét thấy, mục đích hôn nhân không đạt được, tình cảm giữa hai bên không còn, cần xử cho chị Dương Thị H được ly hôn anh Bùi Minh S theo qui định tại Điều 51 và Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

[3] Về con chung: Chị H và anh S có hai con chung là Bùi Dương Gia H, sinh ngày 06/3/2015 và Bùi Dương Khánh H, sinh ngày 23/9/2019, hiện nay hai con chung do chị H trực tiếp nuôi dưỡng. Do anh S đi làm tự do, không có chỗ ở ổn định, do vậy HĐXX giao cả hai con chung cho chị H tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi trưởng thành. Chấp nhận sự tự nguyện của chị H không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con chung.

[4] Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu giải quyết, HĐXX không xem xét.

[5] Về án phí: Chị Dương Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT!ĐỊNH!

Căn cứ Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 ; Điều 227; Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30-12-2016 của Ủy

3

ban thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Dương Thị H:

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Dương Thị H được ly hôn anh anh Bùi Minh S

2. Về con chung: Xử giao con Bùi Dương Gia H, sinh ngày 06/3/2015 và Bùi Dương Khánh H, sinh ngày 23/9/2019 cho chị Dương Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi trưởng thành. Chấp nhận sự tự nguyện của chị H không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con chung. Anh Bùi Minh S có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Dương Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm ly hôn, được đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị Dương Thị H đã nộp là 300.000 đồng, theo biên lai thu số AA/2017/0009266, ngày 13/7/2020, của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương.

4. Về quyền kháng cáo: Chị H và anh S có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ