vanban.org

Bản án 24/2020/DS-PT — Tranh chấp quyền sử dụng đất

TAND tỉnh Hậu Giang Tuyên án 16/04/2020 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 16/04/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

C n cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự n m 2015;

C n cứ Điều 236 Bộ luật Dân sự n m 2015; Chấp nhận toàn bộ kháng cáo của nguyên đơn ng Mai V n U. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Mai Văn Dình - Mai Văn Út"
  • Tòa quyết gì? C n cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự n m 2015;
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2020/DS - PT
Ngày: 16/4/2020
“V/v tranh chấp quyền sử dụng đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Phượng

Các Thẩm phán:

ng H V n u ng

Bà Trịnh Thị Bích H nh

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hol – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang: Bà Nguyễn Thị Phương Lan – Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 16 tháng 4 n m 2020, t i trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang c ng khai xét xử phúc thẩm vụ án thụ lý số: 174/2019/TLPT – DS ngày 31 tháng 12 n m 2019 về việc “tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số: 149/2019/DS - ST ngày 18 tháng 10 n m 2019 của Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Hậu Giang bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2020/QĐPT - DS ngày 20/01/2020; Quyết định hoãn phiên tòa số: 08/2020/QĐ - PT ngày 18/02/2020; Quyết định t m ngừng phiên tòa số: 02/2020/QĐPT - DS ngày 02/3/2020 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: ng Mai V n U, sinh n m 1966 (có mặt).

Địa chỉ: Ấp A, xã T, huyện V, tỉnh Hậu Giang.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: uật sư ông Phan V n H – V n phòng uật sư Phan H thuộc Đoàn luật sư tỉnh Hậu Giang (có mặt).

2. Bị đơn: ng Mai V n D, sinh n m 1954; địa chỉ: Ấp A, xã T, huyện V, tỉnh Hậu Giang (vắng mặt).

Người đ i diện hợp pháp (theo v n bản ủy quyền ngày 17/10/2019): Anh Mai Hoài T, sinh n m 1991. Địa chỉ: Ấp A, xã T, huyện V, tỉnh Hậu Giang (có mặt).

3. Người có quyền lợi; nghĩa vụ liên quan:

3.1. Bà Trương Thị B, sinh n m 1922; (Vắng mặt do già yếu).

3.2. Bà ê Thị ; sinh n m 1967 (có mặt).

3.3. Bà Mai Thị V, sinh n m 1948 (có mặt).

3.4. Bà Mai Thị G, sinh n m 1955 (có mặt).

Cùng địa chỉ: Ấp A, xã T, huyện V, tỉnh Hậu Giang.

3.5. Bà Mai Thị 1, sinh n m 1959 (có mặt).

Địa chỉ: Ấp B, xã Đ, huyện V, tỉnh Hậu Giang.

3.6. Bà ê Thị M, sinh n m 1954 (vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp A, xã T, huyện V, tỉnh Hậu Giang.

Người đ i diện hợp pháp (theo v n bản ủy quyền ngày 17/10/2019): ng Mai Hoài T, sinh n m 1991. Địa chỉ: Ấp A, xã T, huyện V, tỉnh Hậu Giang.

3.7. Anh Mai V n Bu n N, sinh n m 1979 (vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp H, xã K, huyện G, tỉnh Kiên Giang.

Người đ i diện hợp pháp (theo v n bản ủy quyền ngày 17/10/2019): Anh Mai Hoài T, sinh n m 1991. Địa chỉ: Ấp A, xã T, huyện V, tỉnh Hậu Giang (có mặt).

3.8. Anh Mai Thanh Đ, sinh n m 1981 (vắng mặt)

Người đ i diện hợp pháp (theo v n bản ủy quyền ngày 17/10/2019): Anh Mai Hoài T, sinh n m 1991. Địa chỉ: Ấp A, xã T, huyện V, tỉnh Hậu Giang..

3.9. Anh Mai V n N1, sinh n m 1984 (có mặt).

3.10. Anh Mai V n T1, sinh n m 1990 (có mặt).

3.11. Anh Mai Hoài T, sinh n m 1991 (có mặt).

3.12. Anh Mai V n G, sinh n m 1995 (có mặt).

Cùng địa chỉ: Ấp A, xã T, huyện V, tỉnh Hậu Giang.

4. Người kháng cáo: Nguyên đơn ng Mai V n U, bị đơn ng Mai V n D, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà ê Thị M, anh Mai V n Bu n N, anh Mai Thanh Đ, anh Mai V n N, anh Mai V n T1, anh Mai Hoài T, anh Mai V n G.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án sơ thẩm và các tài liệu có trong h sơ thì nội dung vụ án như sau:

Nguyên đơn ông Mai Văn U trình bày: Ngu n gốc phần đất tranh chấp là của cha mẹ ng Mai V n M và bà Trương Thị B cho ng từ n m 1992; ng là con trai út nên sống chung cha mẹ canh tác phần đất trước n m 1992 và tiếp tục trực tiếp canh tác đất từ lúc được cha mẹ cho n m 1992 đến nay để có thu nhập và phụng dưỡng cha mẹ và nu i sống gia đình. N m 2004 cha Mai V n M bị bệnh qua đời và được ch n cất trên phần đất trên. Mẹ Trương Thị B già yếu được Nhà nước phong tặng danh hiệu Mẹ Việt Nam Anh Hùng và được tặng nhà tình nghĩa cất trên phần đất trên. ng trực tiếp canh tác, làm đầy đủ nghĩa vụ thuế với Nhà nước kh ng ai tranh chấp hay khiếu n i gì. Riêng anh chị em đều được cha mẹ cho riêng đất sinh sống. Qua thời gian biết ng Mai V n D là anh ruột giáp ranh đất ng đã đ ng ký bao trùm hết đất của ng và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 000058, ngày 25/5/1996 do Ủy ban nhân dân huyện V (cũ) cấp diện tích 23.923m2 mang tên hộ ng Mai V n D. Sau khi ông U phát hiện ng D kê khai và đứng tên quyền sử dụng phần đất trên thì ng U có yêu cầu ng D tách trả do giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đang thế chấp t i Ngân hàng nên ông D mượn ng U số tiền 250.000.000 đ ng để trả nợ vay cho Ngân hàng. Vợ ch ng ng D và hai người con đ ng ý tách trả nhưng 04 người con còn l i kh ng đ ng ý nên kh ng thực hiện được. Quá trình hòa giải t i địa phương ng D đã trả l i ng U số tiền 250.000.000 đ ng, riêng phần đất thì kh ng đ ng ý tách trả. Nay ng Mai V n U yêu cầu Tòa án giải quyết c ng nhận cho ng sử dụng ổn định phần đất có diện tích 5.589m2 thuộc tờ bản đ số 8; một phần thửa 293 đất t i Ấp A, xã T, huyện V, tỉnh Hậu Giang.

Bị đơn ông Mai Văn D trình bày: Ông D không thống nhất yêu cầu khởi kiện của ng Mai V n U. Phần đất tổng diện tích 23.932m2 thuộc tờ bản đ số 8, các thửa đất 290, 291, 292, 293; giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 000058, cấp ngày 25/5/1996 mang tên hộ ng Mai V n D có ngu n gốc của cha mẹ là Mai V n M và mẹ Trương Thị B cho vợ ch ng ng. Trước đây ng sống cùng cha mẹ và ng U t i phần đất tranh chấp, đến n m 1992 vợ ch ng ra riêng qua phần đất kế bên cất nhà. N m 1996 cha mẹ cho kê khai và được cấp quyền sử dụng đất. Phần đất t i thửa 293 nằm trong quyền sử dụng đất của ng, thực tế ông D sử dụng một phần và ng Mai V n U sử dụng một phần đất và nhà của cha mẹ từ n m 1992 là đúng. ng U được sử dụng phần đất trên là do sống cùng cha mẹ, ng D chưa yêu cầu trả là để ng U nu i cha mẹ già. Quá trình quản lý sử dụng ng Mai V n U có tu bổ như sửa chữa l i mới c n nhà, làm bờ kè, hàng rào..., gia đình ng biết nhưng kh ng có ý kiến gì. N m 2015, ng D định tặng cho ông U phần đất tranh chấp nhưng các con kh ng thống nhất; nay ng U kh ng nghĩ tình nghĩa anh em khởi kiện ng; ng yêu cầu Tòa án giải quyết buộc Mai V n U trả l i phần đất nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của hộ gia đình ng, tài sản trên đất thì ng U tự tháo dỡ, di dời.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trương Thị B trình bày: Vợ ch ng bà có t o lập được số tài sản (đất) đã cho hết các con, nay vẫn giữ ý kiến cho phần đất và nhà cho Mai V n U và sống cùng Mai V n U.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị L (vợ ông U) trình bày ý kiến: Cha mẹ ch ng cho đất vợ ch ng bà, anh em trong gia đình đều biết. Do là con út trong gia đình nên có trách nhiệm nu i dưỡng cha mẹ. Hiện mẹ ch ng là bà Trương Thị B đang sống cùng. Quá trình sử dụng đất có tu bổ như sửa chữa mới toàn bộ c n nhà, làm thêm bờ kè, hàng rào….. ng Mai V n D đã kê khai đ ng ký lu n phần đất của vợ ch ng bà. Nay bà L thống nhất với yêu cầu khởi kiện của ng U, yêu cầu ng D có trách nhiệm tách trả đất cho vợ ch ng bà.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị M (vợ ông D) trình bày: Khi về làm dâu bà sống cùng gia đình ch ng; đến n m 1992 vợ ch ng ra riêng. Đến n m 1996 cha ch ng Mai V n M cho ng Mai V n D đi kê khai đ ng ký và đã được cấp giấy chứng nhận quyên sử dụng đất mang tên hộ ng Mai V n D. Nay bà M kh ng thống nhất yêu cầu khởi kiện của ng Mai V n U.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Mai Thị G trình bày: Cha Mai V n M và mẹ Trương Thị B có tất cả 05 người con, khi cha mẹ còn sống, n m 1992 chia phần đất t i Ấp A, xã T, huyện V, tỉnh Hậu Giang cho 03 người con: Mai Thị G; ng Mai V n D và Mai V n U là thật. ng U sống cùng cha mẹ, khi làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì ng D kê khai lu n phần đất của ng U được cha mẹ cho. Các chị em có kêu D tách trả vợ ch ng D đã đ ng ý, Mai V n U có đưa cho Mai V n D mượn số tiền 250.000.000 đ ng để trả Ngân hàng. Khi làm thủ tục thì một trong số những người con của ng D kh ng thống nhất ký tên nên phát sinh tranh chấp cho đến nay.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Mai Thị L, Mai Thị V trình bày: Việc cha mẹ cho đất Mai Thị G, Mai V n D, Mai V n U là có thật. Anh chị em đã sử dụng phần đất được cho từ đó đến nay kh ng tranh chấp. ng Mai V n D kê khai đ ng ký và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lu n phần đất của Mai V n U sử dụng, anh em đều biết. Nay các bà yêu cầu ng D tách trả đất l i cho Mai V n U để đất ai trả về người đó.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là các con của ông Mai Văn D gồm anh Mai Hoài T, anh Mai Văn G, anh Mai Văn T1, anh Mai Văn Buôn N, anh Mai Thanh Đ, anh Mai Văn N1 trình bày: Kh ng thống nhất yêu cầu của ng Mai V n U. Khi ng nội là Mai V n M còn sống đã cho cha mẹ các anh phần đất này và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất n m 1996. ng Mai V n U cũng đã được cho vào n m 2005 phần đất lớn hơn đất của cha mẹ ng. Phần đất tranh chấp nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của hộ ng Mai V n D, ông U đang sử dụng trước đây là ng bà nội sử dụng nên gia đình kh ng ý kiến, nay bà nội Trương Thị B đang sống cùng ng U trên phần đất đó, việc ông U cất nhà, hàng rào, bờ kè ….kh ng ý kiến hiện t i ng U nu i bà nội. Nay ông U khởi kiện thì yêu cầu ng U trả đất l i cho gia đình ng, tài sản trên đất sẽ hỗ trợ theo quy định.

T i bản án sơ thẩm số: 149/2019/DS - ST ngày 18 tháng 10 n m 2019 của Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Hậu Giang đã tuyên xử như sau:

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ng Mai V n U.

1/ C ng nhận phần đất có diện tích 5.550,2m2 (lo i đất C N) có kích thước như sau: Chiều ngang giáp kênh thủy lợi là 43,74m; chiều ngang giáp phần đất của ng Mai V n D (B) là 43,35m; chiều dài giáp thửa 289 là 126,89m; chiều dài còn l i là 5,21m + 13,19m + 38,17m + 9,41 + 50,11m (5 đo n) thuộc tờ bản đ số 8; một phần thửa 293 đất tọa l c t i Ấp A, xã T, huyện V, tỉnh Hậu Giang nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 000058/QSDĐ, cấp ngày 25/5/1996 mang tên hộ ng Mai V n D cho ng Mai V n U và vợ bà ê Thị L tiếp tục quản lý, sử dụng (có sơ đ thửa đất kèm theo).

2/ Buộc ng Mai V n U và bà ê Thị có nghĩa vụ trả l i giá trị quyền sử dụng phần đất diện tích 5.550,2m2 (đất C N); một phần thửa 293 cho hộ ng Mai V n D tổng số tiền là 394.064.200 đ ng (ba tr m chín mươi bốn triệu kh ng tr m sáu mươi bốn nghìn hai tr m đ ng). Kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định t i Điều 357 Bộ luật dân sự n m 2015.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo và quyền yêu cầu thi hành án của các đương sự.

Ngày 30 tháng 10 n m 2019 bị đơn ng Mai V n D, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà ê Thị M, anh Mai V n Bu n N, anh Mai Thanh Đ, anh Mai V n N1, anh Mai V n T, anh Mai Hoài T, anh Mai V n G có đơn kháng cáo với nội dung: yêu cầu cấp phúc thẩm xem xét bác đơn yêu cầu khởi kiện của ng Mai V n U, kh ng yêu cầu giải quyết tài sản tranh chấp (bán đất).

Ngày 30 tháng 10 n m 2019 nguyên đơn ng Mai V n U có đơn kháng cáo với nội dung: ông U yêu cầu được quản lý sử dụng phần đất diện tích 5.550m2, một phần thửa 293 đất tọa l c t i Ấp A, xã T, huyện V, tỉnh Hậu Giang. Đ ng thời, ng Mai V n U kh ng có nghĩa vụ phải trả giá trị quyền sử dụng đất đối với ông Mai V n D với số tiền 394.064.200 đ ng.

T i phiên tòa phúc thẩm: Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

uật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn cho rằng ng Mai V n U đã sống chung với cha mẹ từ nhỏ. Đến n m 2004 cha ông U là cụ Mai V n M chết, ông U tiếp tục ch m sóc mẹ cụ bà Trương Thị B là bà mẹ Việt Nam Anh Hùng. N m 1984, ng Mai V n U đã đủ 18 tuổi, ng và vợ ng là bà ê Thị canh tác sử dụng đất và nhà ở có diện tích 5.550m2, c ng khai, liên tục trên 30 n m. uật sư đề nghị Hội đ ng xét xử c n cứ vào quy định t i Điều 236 B DS n m 2015 c ng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích 5.550m2 đang có tranh chấp thuộc quyền sử dụng của ng Mai V n U, kh ng buộc ng Mai V n U hoàn trả giá trị quyền sử dụng đất cho ng Mai V n D.

Đ i diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang phát biểu quan điểm:

- Về tố tụng: Tòa án cấp phúc thẩm đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đ ng xét xử phúc thẩm áp dụng khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự n m 2015, sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện, yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ng Mai V n U. Công nhận diện tích 5.550m2 đất NK cho ng Mai V n U, kh ng buộc ng Mai V n U trả giá trị quyền sử dụng đất cho bị đơn ng Mai V n D.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

C n cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét t i phiên tòa, kết quả tranh tụng t i phiên tòa, các quy định của pháp luật, Hội đ ng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Thửa đất các đương sự tranh chấp là thửa 293, lo i đất NK, tờ bản đ số 8, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 000056/QSDĐ ngày 25 tháng 5 n m 1996, cấp cho hộ ng Mai V n D. Tòa án cấp sơ thẩm kh ng tiến hành thu thập chứng cứ t i thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ng D g m có bao nhiêu thành viên trong hộ. Trên thửa đất đang tranh chấp, có c n nhà hiện nay do gia đình ng Mai V n U đang sinh sống. Như vậy, có bao nhiêu thành viên đang trực tiếp ở trên đất và nhà này, Tòa án cấp sơ thẩm chưa thu thập chứng cứ, làm rõ. Do đó, Hội đ ng xét xử phúc thẩm c n cứ vào quy định t i Điều 235 và Điều 259 Bộ luật Tố tụng dân sự, đã quyết định t m dừng phiên tòa để xác minh, thu thập bổ sung tài liệu, chứng cứ.

Theo C ng v n số 274/CAH-HC ngày 25/02/2020 của C ng an huyện V về việc trích lục tàng thư hộ khẩu, t i thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa 293, trong hộ ng Mai V n D có ông Mai Buôn L1 (con của ng D), Tòa án cấp sơ thẩm kh ng tiến hành đưa ng Mai Bu n 1 vào tham gia tố tụng là vi ph m tố tụng. Tuy nhiên, Tòa án cấp phúc thẩm đã tiến hành xác minh. T i biên bản làm việc ngày 04/3/2020, ông Mai Buôn L1 xác định ng là thành viên trong hộ của ng Mai V n D t i thời điểm 1996, nhưng ng kh ng có yêu cầu gì về việc tranh chấp quyền sử dụng đất giữa ng Mai V n U và ng Mai V n D.

T i phiên tòa, ng Mai V n U trình bày, hiện đang sinh sống trên nhà và đất tranh chấp g m có các con của ng g m chị Mai Thị H, chị Mai Thị , anh Mai Anh T và người con rể ng ê V n S (ch ng của chị H). Tòa án cấp sơ thẩm thiếu sót kh ng đưa những người có tên nêu trên vào tham gia tố tụng. Tòa án cấp phúc thẩm tiến hành xác minh, làm việc với các đương sự có tên nêu trên, tất cả họ kh ng có yêu cầu độc lập và thống nhất với yêu cầu khởi kiện của cha là ng Mai V n U.

Hội đ ng xét xử xét thấy, những vi ph m của Tòa án cấp sơ thẩm đã được Tòa án cấp phúc thẩm khắc phục, nên kh ng nhất thiết phải hủy bản án sơ thẩm. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm cần phải nghiêm túc rút kinh nghiệm.

Sau khi xét xử sơ thẩm, nguyên đơn ng Mai V n U, bị đơn ng Mai V n D, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà ê Thị M, anh Mai V n Bu n N, anh Mai Thanh Đ, anh Mai V n N1, anh Mai V n T1, anh Mai Hoài T, anh Mai V n G có đơn kháng cáo hợp lệ và còn trong thời h n luật định và đúng theo quy định t i các điều 271, 272, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự n m 2015 nên được Hội đ ng xét xử phúc thẩm chấp nhận đơn để xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Xét kháng cáo

Nguyên đơn ng Mai V n U kháng cáo một phần bản án sơ thẩm với yêu cầu được toàn quyền sử dụng đất đối với diện tích 5.550m2, được tách quyền sử dụng đất. Ông U kh ng đ ng ý trả giá trị quyền sử dụng đất cho ng Mai V n D với số tiền 394.064.200 đ ng.

Về ngu n gốc đất tranh chấp (có diện tích đo đ c thực tế 5.550,2m2, lo i đất NK, t i thửa số 293, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 000056/QSDĐ ngày 25 tháng 5 n m 1996, do ng Mai V n D đ i diện hộ gia đình đứng tên quyền sử dụng đất) là của cha mẹ ng Mai V n U và ng Mai V n D là cụ ông Mai V n M và cụ bà Trương Thị B. Ông U sống chung một nhà với cha mẹ từ nhỏ, cụ M chết n m 2004, hiện cụ B đã già yếu được ông U ch m sóc. Tuy nhiên, ông U và ng D đều được cụ M và cụ B cho đất. Ông Mai V n D đ i diện hộ gia đình được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ n m 1996. Sau khi cụ M chết (n m 2004) đến n m 2005 ông U được cụ B các anh chị em trong gia đình g m bà Mai Thị G, bà Mai Thị , ông Mai V n D thuộc hàng thừa kế thứ nhất thống nhất để ng Mai V n U thừa kế toàn bộ quyền sử dụng đất do cụ Mai V n M đứng tên quyền sử dụng đất.

Riêng đối với phần đất đang tranh chấp ng Mai V n U đã được sử dụng ổn định, lâu dài trước ngày 01/7/2004 kh ng phát sinh tranh chấp. Đ ng thời ng Mai V n U cùng gia đình g m cụ bà Trương Thị B, vợ con của ông U sinh sống trên phần đất này trên 30 n m, có đ ng ký hộ khẩu thường trú, địa chỉ nhà t i phần đất này. Mặt khác, cụ bà Trương Thị B là mẹ Việt Nam Anh Hùng, được Nhà nước cấp nhà tình nghĩa từ n m 1995 và đã được cấp tiền sửa chữa nhà tình nghĩa lần 2 vào n m 2006. Vợ ng U là bà ê Thị đã sống trên phần đất hơn 32 n m. Theo quy định t i Điều 21 của Nghị định số: 43/2014/NĐ - CP ngày 15 tháng 5 n m 2014 của Chính Phủ, ông Mai V n U có đủ c n cứ xác định việc sử dụng đất của ông ổn định, c ng khai. Việc ng Mai V n D đ ng ký kê khai cả phần đất gia đình ng U đang sinh sống canh tác, kh ng th ng báo cho gia đình ng U là trái pháp luật. Hộ của ông Mai V n D được Ủy ban nhân dân huyện T (nay là huyện V) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa 293 (có nhà và đất ng U) ngày 25 tháng 5 n m 1996, đến nay ông U và gia đình vẫn sử dụng đất liên tục, công khai, hộ của ng D kh ng tranh chấp, khiếu n i gì. Như vậy, ông Mai V n U đã đủ điều kiện để c ng nhận quyền sử dụng đất theo quy định t i Điều 236 Bộ luật Dân sự n m 2015.

Tòa án cấp sơ thẩm c n cứ vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để buộc ng Mai V n U và bà ê Thị L hoàn giá trị quyền sử dụng đất cho hộ của ng Mai V n D là chủ quan, chưa xem xét đến ngu n gốc đất, lịch sử quá trình sử dụng đất của gia đình ng Mai V n U. Hộ của ng Mai V n D kh ng trực tiếp canh tác sử dụng phần đất tranh chấp, nhưng đã kê khai lu n cả phần đất của gia đình ng U. Ủy ban nhân dân huyện V kh ng xác minh thực tế phần đất hộ ng D kê khai, kh ng có h sơ k thuật bản vẽ của các thửa đất, chỉ c n cứ vào đơn đ ng ký quyền sử dụng đất của ng Mai V n D vào ngày 10 tháng 7 n m 1995, chưa đảm bảo về trình tự thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của uật đất đai.

Bị đơn ng Mai V n D, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà ê Thị U, anh Mai V n Bu n N, anh Mai Thanh Đ, anh Mai V n N1, anh Mai V n T1, anh Mai Hoài T, anh Mai V n G kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm xem xét bác đơn yêu cầu khởi kiện của ng Mai V n U, kh ng yêu cầu giải quyết tài sản tranh chấp (bán đất).

Như đã nhận định ở trên, Hội đ ng xét xử phúc thẩm nhận thấy yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo của ng Mai V n U là có cơ sở để chấp nhận. Nên bị đơn hộ gia đình ng Mai V n D c n cứ vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm c ng nhận quyền sử dụng đất cho hộ của ông, bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là kh ng có c n cứ.

Bởi thực tế, hộ ng D kh ng có sử dụng phần đất tranh chấp. Giữa ng D và ông U kh ng có một thỏa thuận nào về việc cho mượn, cho thuê hoặc cho ở nhờ đối với phần đất trên. Ông Mai V n U là người trực tiếp sử dụng đất phần đất tranh chấp ổn định, liên tục, c ng khai, ngay tình và ng U đã cất nhà kiên cố từ n m 2006, tr ng cây lâu n m và hưởng huê lợi trên đất, kh ng ai tranh chấp. Các anh chị em của ông D và ng U đều thừa nhận việc ng U ở chung với cụ ông Mai V n M và cụ bà Trương Thị B từ nhỏ và canh tác sử dụng phần đất đang có tranh chấp, ổn định cho đến bây giờ (ông D kh ng khởi kiện ng U).

Từ những nhận định trên, Hội đ ng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện, yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ng Mai V n U; Kh ng chấp nhận kháng cáo của bị đơn ng Mai V n D và các thành viên của hộ ng Mai V n D.

Quan điểm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của luật sư nguyên đơn ng Mai V n U có c n cứ, phù hợp với nhận định của Hội đ ng xét xử phúc thẩm nên được chấp nhận.

Ý kiến của Kiểm sát viên t i phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đ ng xét xử nên chấp nhận.

Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, do ông Mai V n D và vợ của ng là bà ê Thị M thuộc đối tượng người cao tuổi, Hội đ ng xét xử phúc thẩm c n cứ vào quy định t i điểm d khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quyết định miễn án phí cho ng Mai V n D và bà ê Thị M.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

C n cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự n m 2015;

C n cứ Điều 236 Bộ luật Dân sự n m 2015;

Các điều 5, 26, 100, 101, 166 của uật Đất đai n m 2013;

Áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận toàn bộ kháng cáo của nguyên đơn ng Mai V n U.

Kh ng chấp nhận kháng cáo của ng Mai V n D, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị M, anh Mai V n Bu n N, anh Mai Thanh Đ, anh Mai V n N1, anh Mai V n T1, anh Mai Hoài T, anh Mai V n G.

Sửa một phần bản án sơ thẩm.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ng Mai V n U.

1. C ng nhận phần đất có diện tích 5.550,2m2 (lo i đất C N) có kích thước như sau: Chiều ngang giáp kênh thủy lợi là 43,74m; chiều ngang giáp phần đất của ng Mai V n D (B) là 43,35m; chiều dài giáp thửa 289 là 126,89m; chiều dài còn l i là 5,21m + 13,19m + 38,17m + 9,41 + 50,11m (5 đo n) thuộc tờ bản đ số 8; một phần thửa 293 đất tọa l c t i Ấp A, xã T, huyện V, tỉnh Hậu Giang nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 000058/QSDĐ, cấp ngày 25/5/1996 mang tên hộ ng Mai V n D cho ng Mai V n U và vợ bà ê Thị L tiếp tục quản lý, sử dụng (có sơ đ thửa đất kèm theo).

Ông Mai V n U và bà ê Thị L có trách nhiệm đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, đ ng ký làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất khi bản án có hiệu lực pháp luật.

2. Về án phí:

2.1. Về án phí dân sự sơ thẩm: ng Mai V n D phải chịu 300.000 đ ng (ba tr m nghìn đ ng). Miễn toàn bộ án phí sơ thẩm cho ng Mai V n D.

Hoàn trả l i cho ng Mai V n U số tiền t m ứng án phí 7.000.000 đ ng (bảy triệu đ ng), đã nộp theo biên lai thu tiền t m ứng án phí số 0018358, ngày 07/12/2018 t i Chi cục Thi hành án dân sự huyện V, tỉnh Hậu Giang.

2.2. Về án phí dân sự phúc thẩm: ng Mai V n D phải chịu 300.000 đ ng (ba tr m nghìn đ ng). Miễn toàn bộ án phí phúc thẩm cho ng.

Hoàn l i 300.000 đ ng (ba tr m nghìn đ ng) cho ông Mai V n D đã nộp theo biên lai thu tiền t m ứng án phí số 0000799, ngày 31 tháng 10 n m 2019 t i Chi cục Thi hành án dân sự huyện V, tỉnh Hậu Giang.

Buộc bà ê Thị M, anh Mai Thanh Đ, anh Mai V n N1, anh Mai V n T1, anh Mai Hoài T, anh Mai V n G mỗi người phải chịu 300.000 đ ng (ba tr m nghìn đ ng) án phí phúc thẩm. Miễn án phí cho bà ê Thị M.

Hoàn l i cho ông Mai V n U 300.000 (ba tr m nghìn đ ng) ng đã nộp t m ứng án phí theo biên lai thu số 0000800, ngày 01 tháng 11 n m 2019 t i Chi cục Thi hành án dân sự huyện V, tỉnh Hậu Giang.

3. Chi phí thẩm định, định giá tài sản: Buộc ng Mai V n D phải chịu 11.506.019 đ ng (mười một triệu n m tr m linh sáu nghìn kh ng tr m mười chín đ ng). ng Mai V n D có trách nhiệm nộp số tiền nêu trên, t i Chi cục Thi hành án dân sự huyện V, để trả l i cho ng Mai V n U.

Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 uật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định t i các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 uật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định t i Điều 30 của uật thi hành án dân sự.

Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực từ ngày tuyên án ngày 16/4/2020.

* Nơi nhận:

Cỡ chữ