- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Lê Thị My S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một s…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Thị My S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ GIA NGHĨA TỈNH ĐẮK NÔNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 24/2019/HS-ST Ngày: 04 - 7 - 2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ GIA NGHĨA, TỈNH ĐẮK NÔNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thắm.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Viết Toàn.
Ông Phạm Mạnh Cường.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huệ - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông tham gia phiên tòa: Ông Phạm Thạch Huy - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 7 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 25/2019/TLST-HS ngày 09 tháng 5 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26a/2019/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 6 năm 2019 đối với bị cáo:
Lê Thị My S, sinh ngày 12 tháng 02 năm 1990, tại tỉnh P Y; nơi cư trú: Thôn B T, xã Hòa X Đ, huyện Đ H, tỉnh P Y; nghề nghiệp: Không nghề nghiệp; trình độ văn hóa: 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con bà Lê Thị Đ; không biết họ tên bố; có chồ ng là Trầ n Quố c T và có 02 con; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 30 tháng 01 năm 2019 đến nay; có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Đặng Tấn Th.
Địa chỉ: Tổ 7, phườ ng N P, thị xã G N, tỉnh Đ N; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Thị My S là người nghiện ma túy. Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 30 tháng 01 năm 2019, S điề u khiể n xe mô tô BKS 78K1-166.19 đến thuê phò ng 203 khách sạn Hương Bình t ại tổ 3, phườ ng N T, thị xã G N , tỉnh Đ N để nghỉ. Khi đi S có mang theo 01 gói ma túy đá và được cất giấu trong váy chống nắng . Gói ma túy này S nhờ đố i tượ ng tên H (tại quận 8, thành phố Hồ Chí Minh , không biết rõ họ tên, nhân thân, lại lịch) mua hộ trước đó khoảng 01 tuần với giá 4.000.000đ để sử dụng. Do khá ch sạ n hế t nướ c ngọ t nên S gọi điện cho Đặng Tấn Th (trú tại tổ 7, phườ ng N P, thị xã G N, tỉnh Đ N) nhờ mua nướ c ngọ t mang đế n kh ách sạn. Mộ t lú c sau , T mang nướ c ngọ t đế n và ngồi nói chuyện với S tại phòng 203 của khách sạn. Khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Gia Nghĩa phát hiệ n, bắt quả tang S có hành vi cất giữ trái phép chất ma túy nên tạm giữ S và các tài liệu, đồ vật gồm:
- 01 túi nilon màu trắng , miệ ng sọ c mà u đỏ , kích thước (8,2x5)cm, bên trong chứ a các hạt tinh thể màu trắng (được Cơ quan Cảnh sát điều tra niêm phong trong bì thư).
- 01 vỏ hộp điện thoại Masstel màu đỏ trắng , kích thước (6x11x3)cm, bên trong chứ a : 04 bậ t lử a gas bằ ng nhự a mà u trắ ng ; 27 miế ng nhự a mà u trắ ng , kích thướ c (5x3,3)cm; 01 ống thủy tinh màu trắng có vòi cong , đườ ng kí nh 0,6cm, dài 8cm; 01 ống nhựa màu trắng , sọc màu cam (dạng ống hút), mộ t đầ u đượ c hà n kí n , mộ t đầ u đượ c cắ t vá t nhọ n, đườ ng kí nh 0,6cm, dài 6,8cm.
- 01 váy chống nắng bằng vải, có họa tiết hoa văn hì nh trò n mà u đỏ , trắ ng.
- Tiề n ngân hà ng Nhà nướ c Việ t Nam: 24.500.000đ.
- 01 Chứng minh nhân dân số 221298443; 01 giấ y phé p lá i xe mô tô số
661166017008 và 01 giấ y đăng ký xe mô tô BKS : 78K1-166.19 mang tên Lê Thị My S.
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision , BKS: 78K1-166.19; số khung : 5810GY426103; số má y: JF66E0399832.
- 01 điện thoại di động hiệ u OPPO F3 màu vàng, số IMEI: 354004066375241, gắ n sim số : 0867712728.
- 01 điện thoại di động hiệ u OPPO mà u đen số IMEI : 865460034022798, gắ n sim số : 0917483735.
- 01 điện thoại di động hiệ u NOKIA mà u xanh dương số IMEI
: 357342082033551, gắ n sim số : 0969407749.
Tại Kết luận giám định số 11/KLMT - PC09 ngày 04/02/2019 của Phò ng Kỹ thuậ t hì nh sự Công an tỉ nh Đắ k Nông kết luận : Tinh thể màu trắng trong bì thư gửi giám định là chấ t ma túy , loại Methamphetamine, khối lượng 4,5758 gam. Hoàn trả mẫu vật sau giám định là 3,4686 gam.
Tại bản Cáo trạng số 23/CT - VKS ngày 08 tháng 5 năm 2019, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông truy tố bị cáo Lê Thị My S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Kết quả tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lê Thị My S từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 30/01/2019.
Việc xử lý vật chứng, đề nghị áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 3,4686 gam ma túy còn lại được hoàn trả sau giám định (đã được niêm phong), 04 bậ t lử a gas, 27 miế ng nhự a, 01 ống thủy tinh, 01 ống nhựa và 01 váy chống nắng; chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Gia Nghĩ a trả lại số tiền 24.500.000đ, 01 xe mô tô nhã n hiệ u Honda Vision, 01 điện thoại di dộng hiệ u OPPO , 01 chứng minh nhân dân số 221298443, 01 giấ y phé p lái xe mô tô số 661166017008 và 01 giấ y đăng ký xe mô tô BKS: 78K1 – 166.19 cho bị cáo Lê Thị My Sa; trả lại 01 điện thoại di dộng hiệ u OPPO và 01 điện thoại di động hiệ u NOKIA cho Đặng Tấn Th.
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận Việ n kiể m sá t truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như Cáo trạng là đúng, không oan. Bị cáo không trình bày lời bào chữa, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử đảm bảo đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại c ơ quan điề u tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định và các tài liệu, chứ ng cứ khá c lưu t ại hồ sơ vụ án. Do đó, có căn cứ xác định ngày 30/01/2019 bị cáo Lê Thị My S đã thực hiện hành vi cất giữ trái phép 4,5758 gam ma túy loại Methamphetamine tại nơi ở của mình nhằm mục đích sử dụng. Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma tuý mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) …
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine … có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
2. …
Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, đã xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước về việc cất giữ chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương, là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tệ nạn xã hội và các tội phạm khác. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, đủ điều kiện để nhận thức rõ mình đang thực hiện hành vi cất giữ trái phép chất ma túy bị pháp luật cấm nhưng vẫn thực hiện. Do vậy, cần xử phạt bị cáo hình phạt tù với mức hình phạt đủ nghiêm nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
- 3,4686 gam ma túy còn lại được hoàn trả sau giám định (đã được niêm phong) là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
- 01 vỏ hộp điện thoại, 04 bậ t lửa gas, 27 miế ng nhự a, 01 ống thủy tinh, 01 ống nhựa và 01 váy chống nắng (có đặc điểm như bản thống kê vật chứng và biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/5/2019), đây là các dụng cụ bị cáo dùng để cất giữu và sử dụng ma túy trái phép nên cần tịch thu tiêu hủy.
- Số tiền 24.500.000đ, 01 xe mô tô nhã n hiệ u Honda Vision , 01 điện thoại di dộng hiệ u OPPO, 01 chứng minh nhân dân số 221298443, 01 giấ y phé p lá i xe mô tô số 661166017008, 01 giấ y đăng ký xe mô tô BKS : 78K1 - 166.19 là những vật không liên quan đến hành vi phạm tội, Cơ quan điều tra đã trả lại cho bị cáo Lê Thị My S là có căn cứ nên cần chấp nhận.
- 01 điện thoại di dộng hiệ u OPPO , 01 điện thoại di động hiệ u NOKIA là vật không liên quan đế n vụ án, Cơ quan điều tra đã trả lại cho Đặng TấnThà nh là có căn cứ nên cần chấp nhận.
Đối với Đặng Tấ n Th không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo. Tuy nhiên Th là ngườ i nghiệ n ma tú y , có nơi cư trú rõ ràng, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Gia Nghĩa đã chuyển hồ sơ có liên quan cho Công an phường Nghĩa Phú để thực hiện thủ tục xử lý hành chính đối với Thành là phù hợp.
Đối với đối tượng tên Hà là người bán ma túy cho bị cáo, quá trình điều tra đã tiến hành xác minh nhưng chưa có kết quả, Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh khi nào có căn cứ sẽ xử lý sau là phù hợp.
Xét đề nghị về mức hình phạt, về xử lý vật chứng của Viện kiểm sát là có căn cứ nên cần chấp nhận.
Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Lê Thị My S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Lê Thị My S 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 30 tháng 01 năm 2019.
2. Việc xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 3,4686 gam ma túy hoàn trả sau giám định (đã được niêm phong), 01 vỏ hộp điện thoại, 04 bậ t lửa gas, 27 miế ng nhự a, 01 ống thủy tinh, 01 ống nhựa và 01 váy chống nắng (có đặc điểm như bản thống kê vật chứng và biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/5/2019);
Chấp nhận việc Cơ quan điều tra Công an thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông đã trả lại số tiền 24.500.000đ, 01 xe mô tô nhã n hiệ u Honda Vision, 01 điện thoại di dộng hiệ u OPPO, 01 chứng minh nhân dân số 221298443, 01 giấ y phé p lái xe mô tô số 661166017008 và 01 giấ y đăng ký xe mô tô BKS : 78K1 - 166.19 cho bị cáo Lê Thị My S; trả lại 01 điện thoại di dộng hiệ u OPPO , 01 điện thoại di dộng hiệ u NOKIA cho Đặng TấnTh.
3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội: Buộ c bị cáo Lê Thị My S phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Nông; - Sở Tư pháp tỉnh Đắk Nông; - Sở Tư pháp tỉnh Phú Yên; - Phòng PC06, PV10 Công an tỉnh Đắk Nông; - VKSND tỉnh Đắk Nông; - VKSND TX Gia Nghĩa; - Công an thị xã Gia Nghĩa; - Cơ quan THA Hình sự Công an TX Gia Nghĩa; - Chi cục THADS TX Gia Nghĩa; - Bị cáo; - Lưu HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Thắm |