vanban.org

Bản án 24/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 09/05/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Tạ Bá X phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Tạ Bá X 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 01/3/2019. Về xử lý vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "bc X - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Tạ Bá X phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THỌ XUÂN
TỈNH THANH HÓA
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2019/HS-ST
Ngày 09 - 5 - 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Minh Tiến

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Trọng Hoành

Ông Trịnh Trung Tuyến

- Thư ký phiên tòa: Bà Cao Thị Bình - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Tỉnh - Kiểm sát viên

Ngày 09 tháng 5 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa; xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 19/2019/TLST-HS ngày 27 tháng 3 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2019/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 4 năm 2019;

Đối với bị cáo: Tạ Bá X, sinh ngày 16 tháng 10 năm 1979 tại: xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: thôn, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Tạ Bá H và bà Lê Thị M; có vợ là Trịnh Thị H và 02 con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Ngày 22/7/2009 bị Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân xử phạt 12 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng về tội "Trộm cắp tài sản". Ngày 04/02/2010 bị Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xử phạt 12 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản"; bị bắt tạm giữ ngày 01/3/2019, chuyển tạm giam ngày 07/3/2019; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Đỗ Văn M, sinh năm 1991, địa chỉ: thôn N, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; vắng mặt.

2. Anh Trịnh Xuân H, sinh năm 1998, địa chỉ: Thôn N, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; vắng mặt.

- Người chứng kiến: Anh Hà Duyên Q, sinh năm 1979, địa chỉ: thôn 6, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ 40 phút ngày 01/3/2019, Tổ công tác Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện Thọ Xuân đang làm nhiệm vụ tại khu vực thôn 6, xã Xuân Lai, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa thì phát hiện và bắt quả tang Tạ Bá X đang có hành vi bán trái phép chất ma túy cho anh Đỗ Văn M và anh Trịnh Xuân H lấy 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng). Tổ Công tác đã thu giữ trên người anh Đỗ Văn M 01 gói nhỏ bằng giấy dạng giấy lịch bên trong chứa chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn, anh M khai nhận là heroine vừa mua của Tạ Bá X để sử dụng với giá 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng). Kiểm tra trong ví Tạ Bá X phát hiện thu giữ số tiền 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) và thu trên người Tạ Bá X 01 điện thoại di động màu trắng màn hình cảm ứng đã bị vỡ nhãn hiệu Honor có gắn thẻ sim 0328517927, X thừa nhận số tiền bị thu giữ là tiền vừa bán ma túy cho M mà có. Tổ công tác tiến hành lập biên bản phạm tội quả tang và niêm phong tang vật là 01 gói nhỏ bằng giấy dạng giấy lịch bên trong chứa chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn trong phong bì niêm phong ký hiệu M.

Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Tạ Bá X, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Thọ Xuân không phát hiện, thu giữ gì thêm.

Ngày 03/3/2019, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Thọ Xuân đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 32/CSĐT trưng cầu giám định đối với tang vật thu giữ. Tại Bản kết luận giám định số 700/MT-PC09 ngày 06/3/2019 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận: Chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn của phong bì niêm phong ký hiệu M gửi giám định là ma túy, có trọng lượng (khối lượng) 0,012g (Không phẩy không một hai gam), loại Heroine.

Quá trình điều tra Tạ Bá X khai nguồn gốc số ma túy trên là do X mua của một nam thanh niên không biết tên, tuổi, địa chỉ ở khu vực đập Bái Thượng thuộc địa phận xã Xuân Bái, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa vào trưa ngày 28/02/2019 với giá 300.000đ, mục đích để sử dụng và bán kiếm lời. Sau khi sử dụng một ít, còn lại X bán cho M với giá 200.000đ thì bị bắt quả tang. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Thọ Xuân đã tiến hành xác minh nhưng không có kết quả.

Các đối tượng Đỗ Văn M và Trịnh Xuân H khai nhận: Khoảng 15 giờ ngày 01/3/2019, M gặp và rủ H đi mua ma túy về sử dụng, H đồng ý đi cùng M. M dùng điện thoại Samsung J3 màu trắng sữa màn hình cảm ứng mặt kính bị rạn nứt có số thuê bao 09274030xxgọi cho Tạ Bá X vào số thuê bao 03285179xxx hỏi mua ma túy (Heroine), X đồng ý và hẹn M đến bờ đê thuộc thôn 6, xã Xuân Lai để nhận ma túy. M và H đi đến điểm hẹn thì gặp X; M đưa cho X 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng), X cất tiền vào ví và vào nhà lấy 01 gói heroine đưa cho M. M cầm 01 gói heroine cất vào người định ra về thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt giữ. Trong qúa trình bắt giữ, Đỗ Văn M và Trịnh Xuân H bỏ chạy lên phía bờ đê xã Xuân Lai. Quá trình bỏ chạy M đánh rơi chiếc điện thoại M đã sử dụng để liên lạc với X. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Thọ Xuân đã thông báo truy tìm nhưng không có kết quả.

Vật chứng của vụ án gồm:

- 01 phong bì màu trắng trích mẫu sau giám định do Phòng kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa phát hành ghi “Phong bì niêm phong mẫu vật vụ Tạ Bá X”. Mặt sau được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên của Lại Thị Thanh Loan, Nguyễn Trần Đăng, Hồ Đắc Toàn và 07 (Bảy) hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa;

- 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phát hành;

- 01 điện thoại màu trắng, màn hình cảm ứng đã bị vỡ nhãn hiệu Honor có số IMEI: 868443022509478 và 868443022559481, điện thoại đã qua sử dụng thu giữ của Tạ Bá X.

Tại bản cáo trạng số 21/CT-VKSTX ngày 26/3/2019 Viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân đã truy tố bị cáo Tạ Bá X về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Tạ Bá X thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng đã nêu và khai nhận: Vào khoảng 15 giờ 30 phút ngày 01/3/2019 X đang ở nhà thì có nhận được điện thoại của M (là bạn nghiện) hỏi “còn ma túy không bán cho M 200.000đ”, X đồng ý và hẹn M ra bờ đê trước nhà X để giao ma túy, đến khoảng 15 giờ 40 phút thì M đi cùng một người nữa (về sau X mới biết là H) đến gặp X tại bờ đê, M lấy ra 200.000đ đưa cho X, X cất tiền vào trong ví và đi vào trong nhà lấy ra 01 gói heroine đưa cho M; M cất gói heroine vào trong người định ra về thì bị lực lượng công an ập đến bắt giữ cả 03 người và thu giữ 01 gói heroine trong người M, 200.000đ trong ví của X. Sau đó lực lượng Công an đưa về trụ sở Ủy ban nhân dân xã Xuân Lai lập biên bản phạm tội quả tang.

Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Tạ Bá X phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Đề nghị áp dụng: khoản 1 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Tạ Bá X từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù. Về hình phạt bổ sung: đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo X. Về vật chứng: đề nghị tịch thu, tiêu hủy 01 phong bì màu trắng trích mẫu sau giám định; Tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 200.000đ và 01 điện thoại màu trắng, màn hình cảm ứng đã bị vỡ nhãn hiệu Honor. Về án phí: buộc bị cáo X phải chị án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận với luận tội của đại diện Viện kiểm sát, lời nói sau cùng bị cáo nhận tội và xin được giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; Không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh: Xét thấy lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Kết luận giám định, vật chứng thu giữ được và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận: vào khoảng 15 giờ 40 phút ngày 01/3/2019 Tạ Bá X đã có hành vi bán trái phép cho Đỗ Văn M và Trịnh Xuân H 0,012g heroine với giá 200.000đ nhằm mục đích kiếm lời thì bị bắt quả tang. Bị cáo Tạ Bá X chỉ giao dịch mua bán ma túy với Đỗ Văn M, tiền mua ma túy là của Đỗ Văn M, còn Trịnh Xuân H là người được Đỗ Văn M rủ và đồng ý đi cùng M mua ma túy về sử dụng chung. Bị cáo Tạ Bá X là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự; thực hiện hành vi do cố ý. Do đó, hành vi của bị cáo phạm vào tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự; Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Tính chất vụ án là nghiêm trọng; Bị cáo X là người nghiện ma túy, chỉ vì muốn có tiền để sử dụng ma túy, nhằm thỏa mãn cơn nghiện của bản thân, đã bất chấp pháp luật mua ma túy về cất giấu để sử dụng và bán lại cho các đối tượng khác với mục đích kiếm lời. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước đối với chất ma túy, gây mất trật tự an toàn xã hội, gây nên tâm lý hoang mang, bất bình trong nhân dân. Ma túy không những làm hủy hoại đến sức khỏe, làm mất khả năng lao động, học tập… ; mà còn là điều kiện nảy sinh, lan truyền đại dịch HIV/AIDS (một hiểm hoạ toàn cầu chưa có thuốc chữa). Tội phạm về ma túy là nguyên nhân làm phát sinh các tội phạm khác, đã và đang ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển kinh tế, xã hội và an ninh trật tự. Vì vậy cầ n phả i xử lý vụ án nghiêm minh mới đáp ứng được yêu cầu đấu tranh, phòng ngừa tội phạm nói chung.

Về nhân thân: Ngày 22/7/2009 bị cáo X bị Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân xử phạt 12 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng về tội "Trộm cắp tài sản", đến ngày 20/01/2010 bị cáo đã chấp hành xong án phí và số tiền truy thu; ngày 04/02/2010 bị Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xử phạt 12 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản", đến ngày 05/8/2010 bị cáo chấp hành xong hình phạt tù, ngày 25/6/2010 chấp hành xong phần án phí, còn về phần bồi thường dân sự: người được thi hành án không có yêu cầu thi hành án và có quan điểm cho X khoản tiền bồi thường. Như vậy, căn cứ vào Điều 70 Bộ luật hình sự, xác định bị cáo X đã được xóa án tích, nhưng thể hiện bị cáo X có nhân thân xấu. Bị cáo X đã 02 lần bị Tòa án kết án, nay lại tiếp tục phạm tội, điều đó chứng tỏ bị cáo không ăn năn hối cải, coi thường pháp luật, nên cần xử phạt bị cáo bằng hình phạt tù nghiêm minh, bắt cách ly khỏi xã hội một thời gian, mới có tác dụng cải tạo đối với bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Tạ Bá X không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo X đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, bị cáo có bố đẻ là người có công với cách mạng được tặng thưởng huy chương kháng chiến hạng nhất, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; Do đó xem xét giảm cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật, yên tâm cải tạo sớm trở về hòa nhập với cộng đồng xã hội.

Về hình phạt: Từ những phân tích, đánh giá nêu trên Hội đồng xét xử, xét thấy: cần thiết phải xử phạt bị cáo Tạ Bá X bằng hình phạt tù như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp. Thời gian bị cáo bị tạm giữ, tạm giam được tính vào thời gian chấp hành hình phạt. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo X là đối tượng nghiện ma túy, không có tài sản, không có nghề nghiệp ổn định, bản thân bị phạt tù và đang bị bệnh, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng vụ án: 01 phong bì màu trắng niêm phong mẫu vật sau giám định do phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Thanh Hóa phát hành, bên trong là toàn bộ bao gói niêm phong (không còn mẫu vật, do đã sử dụng hết trong quá trình giám định) là vật cấm lưu hành, không còn giá trị, nên cần tịch thu tiêu hủy; số tiền 200.000đ tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thu giữ của bị cáo X là tiền do phạm tội mà có, cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước; 01 điện thoại di động màu trắng, màn hình cảm ứng đã bị vỡ nhãn hiệu Honor thu giữ của bị cáo X là phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội, cần tịch thu sung vào ngân sach nhà nước. Toàn bộ số vật chứng trên hiện đang được quản lý theo đúng quy định của pháp luật.

Về các tình tiết liên quan đến vụ án:

Bị cáo Tạ Bá X khai mua heroine của một một nam thanh niên không biết tên, tuổi, địa chỉ ở khu vực đập Bái Thượng vào trưa ngày 28/02/2019 với giá 300.000đ, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng không xác định được họ tên, địa chỉ của người bán ma túy cho X, nên không có căn cứ xử lý. Đối với Đỗ Văn M và Trịnh Xuân H đã có hành vi mua 0,012g heroine của Tạ Bá X với mục đích để sử dụng, chưa đủ định lượng để xử lý trách nhiệm hình sự, nên cơ quan Công an xử lý hành chính đối với Đỗ Văn M và Trịnh Xuân H là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; khoản 1 Điều 38; điểm a, b khoản 1 Điều 47; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;

Căn cứ vào khoản 2 Điều 106; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự;

Căn cứ vào Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

1. Tuyên bố bị cáo Tạ Bá X phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Tạ Bá X 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 01/3/2019.

2. Về xử lý vật chứng:

Tịch thu, tiêu hủy 01 phong bì màu trắng niêm phong mẫu vật sau giám định do phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Thanh Hóa phát hành; tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) và 01 điện thoại di động màu trắng, màn hình cảm ứng đã bị vỡ nhãn hiệu Honor có số IMEI: 868443022509478 và 868443022559481 (điện thoại đã qua sử dụng). Toàn bộ số vật chứng trên hiện đang được quản lý tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thọ Xuân, theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/4/2019, phiếu nhập kho số PNK 24 ngày 01/4/2019 và Phiếu thu số PT 363 ngày 01/4/2019.

3. Về án phí: Bị cáo Tạ Bá X phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Tạ Bá X có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án, hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ