- Tranh chấp gì? án hình sự — "Ngô Văn Tr- Vi phạm quy định về ĐKPTGTĐB - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số…"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Ngô Văn Tr; giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 260 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 24/2019/HS-PT Ngày: 26/02/2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tôn Anh Dũng.
Các Thẩm phán: Ông Trần Hưng Bính và ông Bùi Văn Thanh.
Thư ký phiên tòa: Ông Lê Thanh Thọ; Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thị Ái Hoa, Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 02 năm 2019, tại trụ sở Toà án, số 11 Tôn Đức Thắng, thành phố Huế xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 165/2018/TLPT-HS ngày 19/12/2018 đối với bị cáo Ngô Văn Tr, do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 209/2018/HSST ngày 12/11/2018 của Toà án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế.
Bị cáo có kháng cáo:
Ngô Văn Tr (tên gọi khác: T), sinh ngày 19 tháng 10 năm 1981 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; Nơi cư trú: Số 3/195 NLT, phường XP, thành phố H; nghề nghiệp: Lái xe ô tô; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ văn hóa: 12/12; con ông Ngô Văn D (sinh năm 1955) và con bà Nguyễn Thị T (sinh năm 1956); vợ Nguyễn Thị Th, sinh năm 1988; con: Có 02 con, lớn nhất 09 tuổi, nhỏ nhất 07 tuổi; tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú; Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 18 giờ 45 phút, ngày 04/6/2018, Ngô Văn Tr (có iấy phép lái xe hạng C theo quy định) điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 75C-031.44 đi trên đường tránh Thủy Dương - Thuận An hướng từ đường Tố Hữu đến huyện Phú Vang để đổ cát cho gia đình ông Nguyễn Xuân H ở tại tổ 1, khu vực 1, phường AĐ, thành phố H. Khi đến trước công trình nhà máy xử lý nước thải thành phố Huế thì chuyển hướng rẽ trái và đi vào phần đường ngược chiều về hướng huyện Phú Vang (phần đường chỉ dành cho các phương tiện lưu thông theo hướng huyện Phú Vang đến đường Tố Hữu). Khi đi đến cột điện số 77 đường tránh Thủy Dương - Thuận An, thuộc phường AĐ, thành phố H thì va chạm vào xe mô tô biển kiểm soát 75F3-6826 do ông Phạm Ngọc M điều khiển đi theo hướng ngược lại gây tai nạn. Hậu quả: ông Phạm Ngọc M chết trên đường đi cấp cứu.
Tại bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 130-18/TT ngày 10 tháng 6 năm 2018 của Trung tâm pháp y thuộc Sở Y tế tỉnh Thừa Thiên Huế kết luận nguyên nhân chết của ông Phạm Ngọc M như sau:
1. Chuẩn đoán pháp y: chấn thương sọ não nặng, vỡ sập xương sọ, chảy máu nội sọ lan tỏa … gây chết nhanh ngay sau tai nạn.
Các tổn thương tập trung chủ yếu và nặng ở bên trái cơ thể của nạn nhân và được gây ra do lực va chạm trực tiếp với vật tày cứng phù hợp với lực va chạm của xe ô tô tác động vào phía bên trái cơ thể nạn nhân.
2. Nguyên nhân chết: Đa chấn thương nặng, chấn thương sọ não do tai nạn giao thông.
Đoạn đường nơi xảy ra tai nạn: Là cầu N 2, đường tránh Thủy Dương - Thuận An, thuộc phường AĐ, thành phố H. Đường được trải nhựa bằng phẳng, được chia thành 2 chiều đường riêng biệt bởi dải phân cách rộng 5m00 ở giữa. Phần đường nơi xảy ra tai nạn là phần đường phía bên phải theo hướng từ Phú Vang đến đường Tố Hữu.
Quá trình khám nghiệm hiện trường: Lấy điểm mốc của vụ tai nạn là cột điện số 77 đường tránh Thủy Dương - Thuận An. Chọn mép đường phía bên phải của đường tránh Thủy Dương - Thuận An theo hướng từ Phú Vang đến đường Tố Hữu (hướng ưu tiên lưu thông của xe mô tô biển kiểm soát 75F3-6826 do ông Phạm Ngọc M điều khiển). Điểm va chạm đầu tiên giữa xe ô tô và xe mô tô là phần cản xe phía trước bên phải xe ô tô biển kiểm soát 75C-031.44 va chạm vào phần bánh trước xe mô tô biển kiểm soát 75F3-6826. Sự va chạm này làm phần cản xe phía trước bên phải xe ô tô biển kiểm soát 75C-031.44 bị cong lệch, móp lún hướng từ ngoài vào trong, có kích thước 73cm x 27cm, bị bong tróc sơn và dính chất màu xanh có kích thước 15cm x 10cm, điểm thấp nhất vùng dính chất màu xanh cách mặt đất 53cm; Làm cho toàn bộ bánh trước xe mô tô biển kiểm soát 75F3-6826 bị cong lệch, bung rời khỏi vị trí ban đầu, hai phuộc xe bị gãy, bánh xe bị vỡ, vành xe bị cong lệch có chiều hướng từ trước ra sau. Điểm va chạm đầu tiên tương ứng trên mặt đường là vị trí xe ô tô biển kiểm soát 75C-031.44 dừng lại sau tai nạn, đầu xe quay hướng Phú Vang, đuôi xe quay hướng đường Tố Hữu, tâm bánh trước bên trái cách mép chuẩn 2m95, cách tâm trước bánh xe mô tô biển kiểm soát 75F3-6826 một đoạn 7m70 và cách tâm vùng vỡ một đoạn 4m10. Điểm va chạm này nằm hoàn toàn trên phần đường ưu tiên lưu thông của xe mô tô biển kiểm soát 75F3-6826.
* Về vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Huế đã trả lại xe ô tô biển kiểm soát 75C-031.44 cho chủ sở hữu là chị Nguyễn Thị Tg và xe mô tô biển kiểm soát 75F3-6826 cho đại diện hợp pháp của bị hại là bà Lê Thị D.
* Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Bị cáo Ngô Văn Tr đã bồi thường cho đại diện hợp pháp của bị hại Phạm Ngọc M tổng số tiền 100.000.000 đồng. Đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu gì thêm. Ngoài ra đại diện hợp pháp của bị hại còn có đơn bãi nại xin cho bị cáo được hưởng án treo và đơn xin miễn trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Ngô Văn Tr.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 209/2018/HSST ngày 12/11/2018, Toà án nhân dân thành phố Huế đã quyết định:
Bị cáo Ngô Văn Tr phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; Điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.
Xử phạt: Bị cáo Ngô Văn Tr (tên gọi khác: Trắng) 08 (tám) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt giam thi hành án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 21/11/2019, bị cáo Ngô Văn Tr có đơn kháng cáo với nội dung đề nghị cấp phúc thẩm xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.
Ngày 22/01/2019, bà Lê Thị D (đại diện hợp pháp của bị hại) có đơn đề nghị giảm trách nhiệm hình sự cho bị cáo Ngô Văn Tr.
Tại phiên toà phúc thẩm đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế có quan điểm: Toà án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Ngô Văn Tr 08 (tám) tháng tù về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của của Bộ luật tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Ngô Văn Tr và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Kết quả xét hỏi tại phiên toà, các bị cáo Ngô Văn Tr đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như tại cơ quan điều tra và tại phiên toà sơ thẩm và thừa nhận Toà án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Ngô Văn Tr về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội. Bị cáo không bào chữa, tranh luận mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định các cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm, Hội đồng xét xử nhận thấy trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng là phù hợp quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án, có cơ sở để kết luận:
Lời khai nhận của bị cáo Ngô Văn Tr tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm và phù hợp với lời khai của đại diện gia đình bị hại, phù hợp với các tài liệu thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Vào khoảng 18 giờ 45 phút, ngày 04/6/2018, Ngô Văn Tr điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 75C-031.44 đi trên đường tránh Thủy Dương - Thuận An hướng từ đường TH đến huyện Phú Vang, khi đến vị trí cột điện số 77 đường tránh Thủy Dương - Thuận An, thuộc phường AĐ, thành phố H do Tr điều khiển xe ô tô chuyển hướng rẽ trái và đi vào phần đường ngược chiều nên đã va chạm vào xe mô tô biển kiểm soát 75F3-6826 do ông Phạm Ngọc M điều khiển theo hướng ngược lại gây tai nạn làm ông M bị đa chấn thương nặng, chấn thương sọ não và chết trên đường đi cấp cứu.
Với hành vi nêu trên, việc Tòa án nhân dân thành phố Huế kết tội bị cáo Ngô Văn Tr phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo khoản 1 điều 260 Bộ Luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét kháng cáo của bị cáo Ngô Văn Tr, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng: Bị cáo Ngô Văn Tr là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, ý thức được việc điều khiển xe ô tô chuyển hướng rẽ trái và đi vào phần đường ngược chiều là nguy hiểm, có khả năng gây tai nạn, nhưng bị cáo không thực hiện nên đã gây ra tai nạn, để lại hậu quả nghiêm trọng là làm 01 người chết. Do đó, cần phải xử bị cáo một mức án nghiêm và cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung. Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo 08 tháng tù là đúng mức, đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đặc điểm nhân thân của bị cáo. Tại cấp phúc thẩm, không có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào mới. Trong vụ án này lỗi hoàn toàn thuộc về bị cáo, do vậy không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo Ngô Văn Tr và đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bà Lê Thị Diệp.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.
Án phí hình sự phúc thẩm bị cáo Ngô Văn Tr phải chịu theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.
Vì các lẽ trên;
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Ngô Văn Tr; giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; Điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.
Xử phạt: Bị cáo Ngô Văn Tr (tên gọi khác: Trắng) 08 (tám) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt giam thi hành án.
2. Án phí hình sự phúc thẩm bị cáo Ngô Văn Tr phải chịu 200.000 đồng.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng
nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
| Nơi nhận: - Vụ ĐKT I TANDTC; - TAND cấp cao tại Đà Nẵng; - VKSND cấp cao tại Đà Nẵng; - VKSND tỉnh; - Phòng PV27 CA tỉnh TT Huế; - Trại tạm giam CA tỉnh TT Huế; - TAND thành phố Huế; - VKSND thành phố Huế; - CA thành phố Huế; - Chi cục THADS thành phố Huế; - Bị cáo; - Đại diện hợp pháp của bị hại; - Lưu HS, VPTHS. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (ĐÃ KÝ) Tôn Anh Dũng |