vanban.org

Bản án 24/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, bà Mai Thị H được ly hôn ông Đỗ Phú T.

Về con chung: Giao con chung Đỗ Thiên L, sinh ngày 18/01/2012 cho bà Mai Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi con chung trưởng thành. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho ông Đỗ Phú T. Ông T có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "HOng Thinh - ly hon"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, bà Mai Thị H được ly hôn ông Đỗ Phú T.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Luật Phí và lệ phí
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ NHA TRANG
TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 17/5/2019
V/v: “Ly hôn”
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Bích Liễu
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Mộng Lành,
2. Bà Nguyễn Thị Tỉnh.
phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.
tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền- Kiểm sát viên.
Trang, tỉnh Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số:
1555/2018/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 12 năm 2018 về việc “Ly hôn” theo Quyết
định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2019/QĐST-HNGĐ ngày 10 tháng 5 năm 2019,
giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Mai Thị H, sinh năm 1990
Địa chỉ: Thôn Phước S, xã Phước Đ, Nha T. Vắng mặt.
2. Bị đơn: Ông Đỗ Phú T, sinh năm 1986
Địa chỉ: Thôn Phước S, xã Phước Đ, Nha T. Vắng mặt.
Ngày 17 tháng 5 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nha

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ly hôn ngày 01/12/2018, bản tự khai ngày 18/12/2018, biên bản hòa giải ngày 21/12/2018, nguyên đơn – bà Mai Thị H trình bày: Bà Mai Thị H và ông Đỗ Phú T tự nguyện kết hôn với nhau năm 2011 tại Ủy ban nhân dân phường Tân L, Nha T. Trong cuộc sống chung hai bên xảy ra nhiều mâu thuẫn, bất hòa giữa hai bên thường xuyên xảy ra rất nghiêm trọng làm ảnh hưởng đến hạnh phúc gia đình, ông T không chăm lo cho cuộc sống gia đình, ông T thường xuyên chửi bới, xúc phạm và có hành vi đánh đập bà H. Nay bà H nhận thấy không thể tiếp tục chung sống với ông T được nữa nên yêu cầu Tòa án xem xét và giải quyết cho bà được ly hôn với ông T.

Về con chung: Bà Mai Thị H và ông Đỗ Phú T có 01 con chung là Đỗ Thiên L, sinh ngày 18/01/2012. Nay bà H có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con chung là Đỗ Thiên L, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại biên bản lấy lời khai ngày 12/12/2018, biên bản hòa giải ngày 21/12/2018, bị đơn ông Đỗ Phú T trình bày: Ông Đỗ Phú T và bà Mai Thị H tự nguyện kết hôn với nhau vào năm 2011 tại Ủy ban nhân dân phường Tân L, Nha T. Thời gian vợ chồng chung sống gia đình hạnh phúc, chỉ có thời gian gần đây ông T lỡ tay đánh bà Hồng khiến bà H bỏ nhà đi.

Nay bà H yêu cầu ly hôn, ông T không đồng ý ly hôn, mong muốn được hòa giải đoàn tụ và cho con cái có sự chăm sóc của cả cha và mẹ. Trong trường hợp bà Hồng vẫn yêu cầu ly hôn thì ông T yêu cầu được nuôi con chung và không yêu cầu bà H cấp dưỡng nuôi con chung; tài sản chung và nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ông T đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt ông.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Bà Mai Thị H và ông Đỗ Phú T là vợ chồng, có đăng ký kết hôn và bị đơn có địa chỉ cư trú tại thành phố Nha T, tỉnh Khánh . Do trong cuộc sống vợ chồng bà Hồng và ông T xảy ra nhiều mâu thuẫn nên dẫn đến việc bà H xin ly hôn. Xét việc ly hôn của bà H là đúng pháp luật, vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang theo quy định tại Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình và Điều 28, Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự.

Tòa án đã thực hiện đúng theo trình tự tố tụng quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự. Trong đó, theo quy định tại khoản 3 Điều 208 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án đã tiến hành thủ tục xác minh tình trạng hôn nhân, nguyện vọng của vợ, chồng, con có liên quan đến vụ án đang giải quyết. Theo biên bản xác minh ngày 20/12/2018 tại Ủy ban nhân dân xã Phước Đ, thành phố Nha T thì địa phương không cung cấp thông tin mâu thuẫn gia đình cho Tòa án được vì Ủy ban nhân dân xã Phước Đ không nhận được đơn thư trình báo về sự việc giữa bà Mai Thị H và ông Đỗ Phú T.

Theo quy định tại đoạn 2 khoản 3 Điều 208 Bộ luật tố tụng dân sự: “Đối với vụ án tranh chấp về nuôi con khi ly hôn hoặc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, Thẩm phán phải lấy ý kiến của con chưa thành niên từ đủ bảy tuổi trở lên...” và khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án đã tiến hành lấy lời khai của cháu Đỗ Thiên L, sinh ngày 18/01/2012 nguyện vọng của cháu là được ở với mẹ sau khi ba mẹ ly hôn.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn Đỗ Phú T có đơn xin giải quyết vắng mặt do bận công việc riêng. Nguyên đơn vì lý do ở xa đi lại khó khăn nên có đơn xin xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Mai Thị H và ông Đỗ Phú T kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Tân L, Nha T (theo giấy chứng nhận kết hôn số 43/2011, quyển số 01/2011, cấp ngày 28/3/2011). Đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp.

Theo lời khai của bà H và ông T cho thấy vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, bất hòa giữa hai bên thường xuyên xảy ra rất nghiêm trọng làm ảnh hưởng đến hạnh phúc gia đình, cuộc sống ngày càng căng thẳng. Nay bà H nhận thấy không thể tiếp tục chung sống với ông T được nữa vì mâu thuẫn đã kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Tòa án xem xét và giải quyết cho bà được ly hôn với ông T. Tuy nhiên, ông T không đồng ý ly hôn, mong muốn Tòa án cho thời gian hai tháng để được hòa giải đoàn tụ vì muốn con cái có sự chăm sóc của cả cha và mẹ, nếu hết thời gian trên thì Tòa án cứ giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Hội đồng xét xử thấy rằng cuộc sống chung của bà H và ông T có nhiều mâu thuẫn, vợ chồng không còn tình cảm, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không thể kéo dài, yêu cầu xin ly hôn của bà H là có cơ sở và hoàn toàn tự nguyện, có căn cứ và phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung: Bà Mai Thị H và ông Đỗ Phú T có 01 con chung là Đỗ Thiên L, sinh ngày 18/01/2012. Nay bà H có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con chung là Đỗ Thiên L, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung. Ông T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con chung là Đỗ Thiên L, không yêu cầu bà H cấp dưỡng nuôi con chung.

Hội đồng xét xử thấy rằng từ trước đến nay cháu Đỗ Thiên L được bà H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục ổn định, đảm bảo cho cháu phát triển toàn diện về thể chấp và tinh thần, do đó cần tiếp tục giao con chung cho bà Hồng chăm sóc, giáo dục con chung là phù hợp với nguyện vọng của bà H và cháu Đỗ Thiên L. Về cấp dưỡng nuôi con chung bà H không yêu cầu nên hội đồng xét xử không xem xét. Ông T có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Bà Hồng phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn; giao con chung là Đỗ Thiên L, sinh ngày 18/01/2012 cho bà Mai Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, về cấp dưỡng và tài sản chung, nợ chung bà H không yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào các Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ các Điều 28, 35, 147, 227 và Điều 266 của Bộ luật tố tụng dân sự;

- Căn cứ Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015;

- Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, bà Mai Thị H được ly hôn ông Đỗ Phú T.

2. Về con chung: Giao con chung Đỗ Thiên L, sinh ngày 18/01/2012 cho bà Mai Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi con chung trưởng thành. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho ông Đỗ Phú T.

Ông T có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Án phí: Bà Mai Thị H phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số AA/2016/0010384 ngày 13/12/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Nha Trang. Bà Hồng đã nộp đủ án phí.

5. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án. * Nơi nhận:

Cỡ chữ