vanban.org

Bản án 24/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Võ Hồng D đối với ông Nguyễn Thanh S về việc “ly hôn”; Về hôn nhân: bà Võ Hồng D được ly hôn với ông Nguyễn Thanh S. Về con chung: bà Võ Hồng D được quyền trực tiếp nuôi hai con chung tên Nguyễn Thanh S1 (sinh ngày 23-8-2010) và Nguyễn…

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Võ Hồng D yêu cầu ly hôn Nguyễn Thanh S"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Võ Hồng D đối với ông Nguyễn Thanh S về việc “ly hôn”; Về hôn nhân: bà Võ Hồng D được ly hôn với ông Nguyễn Thanh S. Về con chung: bà Võ Hồng D được quyền trực tiếp nuôi hai con chung tên Nguyễn Thanh S1 (sinh ngày 23-8-2010) và Nguyễn…
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐỨC HUỆ
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 19-6-2019
V/v Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HUỆ TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Bích Liên.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Dương Thị Ngọc Trang.

Bà Nguyễn Thị Nghĩa.

- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thị Bé Đào - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Huệ, tỉnh Long An.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đức Huệ tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lê Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 6 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Huệ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 218/2018/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 12 năm 2018 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 5 năm 2019 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Võ Hồng D - Sinh năm 1993 - Địa chỉ: ấp 2, xã M, huyện Đ, tỉnh L. (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt ngày 24-12-2018).

Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh S - Sinh năm 1985 - Địa chỉ: ấp 2, xã M, huyện Đ, tỉnh L. (Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt ngày 08-5-2019).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 04-12-2018, các văn bản tiếp theo, nguyên đơn bà Võ Hồng D trình bày: bà D và ông Nguyễn Thanh S cưới nhau năm 2010, đăng ký kết hôn ngày 02-01-2014 tại Ủy ban nhân dân (UBND) xã Mỹ Quý Tây, huyện Đức Huệ, tỉnh Long An. Vợ chồng chung sống đến tháng 5 năm 2011 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do ông S không làm ăn chân chính mà cờ bạc gây phá tán tài sản gia đình dẫn đến vợ chồng gây cãi nhau. Từ tháng 6 năm 2016, bà D đã sống ly thân với ông S đến nay.

Về hôn nhân: Bà D yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Thanh S.

Về con chung: có 02 con chung tên Nguyễn Thanh S1 (sinh ngày 23-8-2010) và Nguyễn Ngọc Tường V (sinh ngày 18-02-2014). Hiện hai con chung đang sống với bà D. Bà D yêu cầu trực tiếp nuôi cả hai con chung, không yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung và nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tại đơn xin xét xử vắng mặt ngày 24-12-2018, bà D giữ nguyên các yêu cầu như nội dung đơn khởi kiện. Ông S có đơn xin xét xử vắng mặt ngày 08-5-2019 nhưng theo biên bản lấy lời khai ngày 08-5-2019, ông Nguyễn Thanh S khai thống nhất với bà D về điều kiện kết hôn, có hai con chung, không có tài sản chung, không có nợ chung. Về nguyên nhân mâu thuẫn ông S khai giữa ông và bà D không có mâu thuẫn gì. Năm 2018 vì ông S đi cai nghiện bắt buộc nên sống riêng với bà D đến nay. Về hôn nhân: ông S đồng ý ly hôn với bà D. Về con chung: Ông S yêu cầu trực tiếp nuôi 02 con chung, không yêu cầu bà D cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung và nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đức Huệ phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: trong quá trình thụ lý, thời gian chuẩn bị đưa vụ án ra xét xử và tại phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về việc giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho bà D ly hôn với ông S, giao con chung cho bà D tiếp tục nuôi dưỡng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

. Về thẩm quyền: Bà Võ Hồng D khởi kiện yêu cầu ly hôn ông Nguyễn Thanh S. Ông S cư trú tại huyện Đức Huệ, tỉnh Long An nên Tòa án nhân dân huyện Đức Huệ tỉnh Long An thụ lý giải quyết vụ án là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. [2]. Về thủ tục tố tụng: bà D có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải ngày 24-12-2018, ông S đã vào cơ sở cai nghiện từ ngày 15-5-2018 nên đây là vụ án không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 4 Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bà D và ông S vắng mặt tại phiên tòa và cả hai đều có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vụ án [3]. Xét yêu cầu ly hôn của bà D: bà Võ Hồng D và ông Nguyễn Thanh S xác lập quan hệ vợ chồng có đăng ký kết hôn ngày 02-01-2014 tại UBND xã Mỹ Quý Tây, huyện Đức Huệ, tỉnh Long An nên quan hệ hôn nhân giữa bà D và ông S là hôn nhân hợp pháp theo quy định của luật Hôn nhân và gia đình. Mặc dù bà D và ông S khai không thống nhất với nhau về nguyên nhân mâu thuẫn, thời gian sống ly thân nhưng thực tế hiện nay ông S đã và đang cai nghiện bắt buộc từ ngày 15-5-2018 đến nay. Đồng thời ông S cũng đồng ý ly hôn với bà D. Như vậy tình trạng hôn nhân của bà D và ông S là trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn của bà D có cơ sở chấp nhận theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung: Bà D và ông S cùng yêu cầu trực tiếp nuôi 02 con chung, không yêu cầu người còn lại cấp dưỡng nuôi con chung nhưng hiện nay cả 02 con chung đang sống với bà D; trong khi ông S đang cai nghiện bắt buộc tại cơ sở cai nghiện số 3 (huyện Phú Giáo tỉnh Bình Dương). Ngoài lời khai ngày 08-5-2019 thì ông S không có tài liệu, chứng cứ gì để chứng minh về khả năng, điều kiện để ông S nuôi con chung là tốt hơn bà D. Vì vậy để đảm bảo quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục và sự ổn định để phát triển tốt nhất cho con chung thì giao cho bà D trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung là phù hợp quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Bà D không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung là sự tự định đoạt của bà D, Hội đồng xét xử ghi nhận.

. Về tài sản chung và nợ chung: Bà D và ông S cho rằng không có tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

. Với những nhận định trên thì đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát là có cơ sở chấp nhận.

. Về án phí dân sự sơ thẩm: bà D là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm theo Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Ông S không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 4 Điều 207, Điều 228 và Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Võ Hồng D đối với ông Nguyễn Thanh S về việc “ly hôn”; Về hôn nhân: bà Võ Hồng D được ly hôn với ông Nguyễn Thanh S. Về con chung: bà Võ Hồng D được quyền trực tiếp nuôi hai con chung tên Nguyễn Thanh S1 (sinh ngày 23-8-2010) và Nguyễn Ngọc Tường V (sinh ngày 18-02-2014). Hiện hai con chung đang sống với bà D. Ông S không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Ông S có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Khi cần thiết, vì quyền và lợi ích hợp pháp của con chung, bà D và ông S được quyền yêu cầu thay đổi tình trạng nuôi con chung và việc cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình. Về tài sản chung và nợ chung: bà D và ông S khai không có, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét giải quyết. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Võ Hồng D phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm bà D đã nộp theo biên lai thu số 0004285 ngày 05-12-2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Huệ. Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án theo thủ tục phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ