vanban.org

Bản án 24/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1- Chị Tạ Thị H được ly hôn anh Dương Đức Đ;

2- Về con chung: Giao cho chị Tạ Thị H được nuôi cả 02 con Dương Đức A, sinh ngày 30 tháng 10 năm 2009; Dương Hoàng L, sinh ngày 24 tháng 9 năm 2016 đến khi các con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh Dương Đức Đ. Sau kh… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tạ Thị H và Dương Đức Đ"
  • Tòa quyết gì? 1- Chị Tạ Thị H được ly hôn anh Dương Đức Đ;
  • Căn cứ chính? Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN AN LÃO
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2019/HNGĐ-ST
Ngày 30-7-2019
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN LÃO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đinh Duy Việt

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đàm Công Du

Ông Nguyễn Văn Thắng

- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Trang là Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Lão, thành phố tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Thu Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 7 năm 2019, tại trụ sở toà án nhân dân huyện An Lão tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 67/2019/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 3 năm 2019, về việc "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 805/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 7 năm 2019, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Tạ Thị H; ĐKHKTT: Thôn C, xã Q, huyện A, thành phố Hải Phòng; hiện trú tại: Thôn C, xã Q, huyện A, thành phố Hải Phòng, có mặt tại phiên toà.

- Bị đơn: Anh Dương Đức Đ; trú tại: Thôn C, xã Q, huyện A, thành phố Hải Phòng, vắng mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 15 tháng 02 năm 2019 và các lời khai tại Tòa án nhân dân huyện An Lão chị Tạ Thị H trình bày:

1.Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh Dương Đức Đ kết hôn với nhau năm vào 2009, trên cơ sở được tìm hiểu tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện A, thành phố Hải Phòng ngày 05 tháng 01 năm 2009. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại thôn C, xã Q, huyện A, thành phố Hải Phòng. Quá trình chung sống vợ chồng đã phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, anh Đ mải chơi, ít quan tâm đến vợ con, vợ chồng thường xuyên sảy ra cãi chửi nhau, mâu thuẫn của vợ chồng đã được gia đình hòa giải, khuyên nhủ, nhưng không có kết quả, chị H đã về nhà bố mẹ đẻ sinh sống từ tháng 7 năm 2018, vợ chồng sống ly thân nhau không ai quan tâm đến ai. Nay chị H thấy tình cảm vợ chồng không còn, vợ chồng không có khả năng hàn gắn, đoàn tụ, nên đề nghị Tòa án nhân dân huyện An Lão giải quyết cho chị H được ly hôn anh Dương Đức Đ.

2. Về con chung: Chị Tạ Thị H và anh Dương Đức Đ có 02 con chung là Dương Đức A, sinh ngày 30 tháng 10 năm 2009; Dương Hoàng L, sinh ngày 24 tháng 9 năm 2016; ly hôn chị đề nghị được nuôi cả hai con, không yêu cầu anh Đ phải cấp dưỡng nuôi con chung.

3. Về tài sản chung, công nợ và các vấn đề khác: Chị H trình bày chị và anh Đ không có, không yêu cầu toà án giải quyết.

Anh Dương Đức Đ trình bày: Thống nhất với chị Tạ Thị H về thời gian và điều kiện kết hôn. Trong thời gian chung sống, anh Đ và chị H phát sinh nhiều mâu thuẫn, vợ chồng đã sống ly thân nhau. Nay anh Đ thấy vợ chồng không có khả năng đoàn tụ, việc chị H kiên quyết xin ly hôn, anh Đ đồng ý ly hôn; về con chung: Anh Đ thống nhất vợ chồng có 02 con chung như chị H trình bày, hiện nay hai con đang ở với chị H, ly hôn chị H đề nghị nuôi cả hai con, anh Đ đồng ý; về tài sản chung, công nợ: Anh Đ trình bày anh và chị H không có.

Tại phiên tòa đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Lão phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn là chị Tạ Thị H có đơn khởi kiện về việc ly hôn và tranh chấp nuôi con, anh Dương Đức Đ là bị đơn trong vụ án đã được Tòa án thông báo về việc thụ lý vụ án. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn đã cơ bản thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật, bị đơn không đến tòa theo giấy triệu tập của tòa án là chưa thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại các điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ vụ án, diễn biến tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn đề nghị giải quyết chị Tạ Thị H được ly hôn anh Dương Đức Đ, giao cho chị H được nuôi cả hai con chung là Dương Đức A, Dương Hoàng L; về cấp dưỡng nuôi con chung, chị H không yêu cầu nên tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Đ; chị H phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên toà, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

- Về tố tụng:

[1] Về thẩm quyền: Đây là vụ án về việc ly hôn và tranh chấp nuôi con, theo quy định tại khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì thẩm quyền giải quyết tranh chấp thuộc Tòa án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng.

Về việc vắng mặt của bị đơn anh Dương Đức Đ: Anh Dương Đức Đ vắng mặt tại phiên tòa lần thứ nhất, có đơn xin xét xử vắng mặt, nên căn cứ khoản 1 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh Dương Đức Đ.

- Về yêu cầu của nguyên đơn chị Tạ Thị H:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Tạ Thị H kết hôn với anh Dương Đức Đ, trên cơ sở được tìm hiểu tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 05 tháng 01 năm 2009, tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện A, thành phố Hải Phòng, căn cứ vào khoản 1 Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình, xác định là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống trên cơ sở lời khai đương sự, biên bản xác minh của Tòa án thấy: Trong thời gian chung sống chị H và anh Đ đã phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, anh Đ mải chơi, ít quan tâm đến vợ con, vợ chồng thường xuyên cãi chửi nhau, gây ảnh hưởng đến sức khỏe, tinh thần của chị H, dẫn đến tình trạng cuộc sống chung của vợ chồng luôn nặng nề, căng thẳng. Mâu thuẫn kéo dài, mặc dù gia đình khuyên bảo, hòa giải nhiều lần nhưng không có kết quả. Tháng 7 năm 2018 chị H bỏ về nhà bố mẹ đẻ sinh sống, vợ chồng ly thân nhau. Căn cứ vào khoản 1, 2 Điều 19 của Luật Hôn nhân và gia đình, xác định mâu thuẫn của chị H, anh Đ đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Việc chị H xin ly hôn anh Đ là có căn cứ, phù hợp Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, nên Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của chị H được ly hôn anh Đ.

Về con chung: Chị H và anh Dương Đức Đ có 02 con chung là Dương Đức A, sinh ngày 30 tháng 10 năm 2009; Dương Hoàng L, sinh ngày 24 tháng 9 năm 2016; cháu Dương Đức A đã trên 07 tuổi có nguyện vọng được ở với chị H, cháu Dương Hoàng L tính đến thời điểm xét xử chưa đủ 03 tuổi; chị H có thu nhập đảm bảo được việc nuôi con, đề nghị được nuôi cả 02 con, anh Đ đồng ý để chị H nuôi cả 02 con. Nên căn cứ vào Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình, giao cho chị H được nuôi dưỡng cả 02 con như đề nghị cảu Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp. Về cấp dưỡng nuôi con chị H không yêu cầu, nên tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh Đ.

Về tài sản chung, công nợ và các vấn đề khác: Các đương sự không yêu cầu, Hội đồng xét xử không xét.

Về án phí: Chị H phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, Điều 266, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào quy định tại các điều 19, 51, 53, 56, 57 và các điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1- Chị Tạ Thị H được ly hôn anh Dương Đức Đ;

2- Về con chung: Giao cho chị Tạ Thị H được nuôi cả 02 con Dương Đức A, sinh ngày 30 tháng 10 năm 2009; Dương Hoàng L, sinh ngày 24 tháng 9 năm 2016 đến khi các con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh Dương Đức Đ.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không được ai cản trở.

3. Về án phí: Chị Tạ Thị H phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số 0017125 ngày 15 tháng 3 năm 2019, của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Lão, chị H đã nộp đủ án phí.

Về quyền kháng cáo bản án:

Chị Tạ Thị H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, anh Dương Đức Đ có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Cỡ chữ