- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Vụ án dân sự về tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
- Tòa quyết gì? 1- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Hà Văn H.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 256 Bộ luật Dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ Đ TỈNH QUẢNG TRỊ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 24/2019/ST-DS Ngày 10 - 9 - 2019 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ Đ, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quốc Huy.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Công Hiến;
2. Bà Võ Thị Trúc Mai.
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Hồng- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị.
- Đại diện Viên kiểm sát nhân dân thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệu Linh- Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 9 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị (địa chỉ: Số 45-Lê Lợi, thành phố Đ) xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số: 90/2019/TLST-DS ngày 13 tháng 6 năm 2019 về việc: "Tranh chấp đòi lại tài sản" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2019/QĐXXST-DS ngày 31 tháng 7 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 35/2019/QĐST-DS ngày 20 tháng 8 năm 2019, giữa các đương sự:
1- Nguyên đơn: Ông Hà Văn H;
Địa chỉ: Số 116- Lê D, Phường M, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Võ Ngọc M và bà Mai Thị Tuyết N; Cùng địa chỉ: Số 0B đường Bến H, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị (Theo Văn bản ủy quyền ngày 12 tháng 6 năm 2019). Có mặt.
2- Bị đơn: Ông Hoàng Ngọc Bảo V và bà Ngô Thị Nh;
Cùng địa chỉ: Khu phố N, Phường N, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
1. Theo đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn là ông Hà Văn H (Sau đây viết tắt là: ông H) trình bày:
Ngày 30 tháng 7 năm 2004, ông H cho ông Hoàng Ngọc Bảo V và bà Ngô Thị Nh (Sau đây viết tắt là: ông V, bà Nh) vay số tiền 200.000.000 đồng, thời hạn vay 2 tháng, lãi suất 3 %/tháng. Nội dung thỏa thuận nêu trên được được lập thành văn bản (Giấy mượn tiền).
Ngày 30 tháng 12 năm 2010, ông H đồng ý thỏa thuận lại thời hạn ông V, bà Nh phải trả nợ vay nêu trên cho Ông là ngày 30 tháng 12 năm 2012.
Quá thời hạn trả nợ, ông H đã nhiều lần yêu cầu ông V, bà Nh trả lại tiền vay nhưng ông V, bà Nh không thực hiện nên ông H khởi kiện ông V, bà Nh với yêu cầu: Buộc ông Hoàng Ngọc Bảo V và bà Ngô Thị Nh trả lại cho ông Hà Văn H với số tiền 200.000.000 đồng.
2. Bị đơn là ông Hoàng Ngọc Bảo V và bà Ngô Thị Nh:
Ông V, bà Nh đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng Ông, Bà không giao nộp cho Tòa án văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của ông H và không tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải do Tòa án tổ thức.
3. Quan điểm của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án:
* Về tố tụng:
- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán đã tuân thủ theo đúng các quy định về pháp luật tố tụng dân sự.
- Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm và đảm bảo đúng nguyên tắc xét xử.
* Về nội dung vụ án:
Căn cứ Điều 256 và Điều 427 Bộ luật Dân sự năm 2005; Điều 688 Bộ luật Dân sự năm 2015, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
1.1- Việc xét xử vắng mặt bị đơn:
Tòa án đã tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2019/QĐXXST- DS ngày 31 tháng 7 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 35/2019/QĐST-DS ngày 20 tháng 8 năm 2019 cho bị đơn nhưng bị đơn vẫn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 02 và không thuộc trường hợp vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt bị đơn.
1.2- Quan hệ pháp luật tranh chấp:
Theo chứng cứ có trong hồ sơ vụ án (Giấy mượn tiền- Bút lục số: 17), có nội dung: Ngày 30 tháng 7 năm 2004, ông H cho bà Nh vay số tiền 200.000.000 đồng; Thời hạn vay là 02 tháng.
Ngày 30 tháng 12 năm 2010, ông H đồng ý thỏa thuận lại thời hạn ông V, bà Nh phải trả nợ vay nêu trên cho Ông là ngày 30 tháng 12 năm 2012 (Bút lục số 17a).
Như vậy, ngày 30 tháng 12 năm 2012 là thời hạn cuối cùng ông V, bà Nh phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ tiền vay cho ông H nên thời điểm phát sinh tranh chấp kể từ ngày 31 tháng 12 năm 2012.
Ngày 03 tháng 6 năm 2019, ông H nộp đơn khởi kiện ông V, bà Nh. Tòa án thụ lý đơn khởi kiện của ông H và xác định quan hệ pháp luật tranh chấp “Tranh chấp đòi lại tài sản” là đúng quy định Điều 427 Bộ luật Dân sự năm 2005 và khoản 2 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Xem xét nội dung “Giấy mượn tiền-Chứng cứ do nguyên đơn cung cấp), Hội đồng xét xử thấy: “Giấy mượn tiền” có nội dung của “Hợp đồng vay tài sản”, cụ thể: Ngày 30 tháng 7 năm 2004, ông V, bà Nh có vay của ông H số tiền 200.000.000 đồng, lãi suất: 3%/tháng, thời hạn vay 02 tháng.
Ngày 30 tháng 12 năm 2010, các bên thỏa thuận lại thời hạn trả nợ tiền vay là ngày 30 tháng 12 năm 2012.
Với nội dung nêu trên, đủ cơ sở để xác định: Ngày 30 tháng 7 năm 2004, ông V, bà Nh đã nhận số tiền vay 200.000.000 đồng từ ông H để sử dụng chung (Không xác định được theo phần).
Quá trình giải quyết vụ án, ông V, bà Nh đã biết rõ yêu cầu khởi kiện của ông H thông qua việc nhận các văn bản tố tụng do Tòa án tống đạt nhưng ông V, bà Nh không giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để minh Ông, Bà “Đã thực hiện xong nghĩa vụ trả lại số tiền đã vay là 200.000.000 đồng cho ông H”. Như vậy, đã đủ cơ sở để xác định: Ông Hoàng Ngọc Bảo V và bà Ngô Thị Nh là người đang sử dụng để hưởng lợi về tài sản (200.000.000 đồng) không có căn cứ pháp luật.
Từ những nhận định nêu trên, có đủ căn cứ để chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn phải thực hiện nghĩa vụ liên đới trả lại số tiền đã nhận (vay) cho nguyên đơn.
Về án phí:
Buộc ông Hoàng Ngọc Bảo V và bà Ngô Thị Nh phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật;
Yêu cầu khởi kiện của ông H được chấp nhận toàn bộ nên cần trả lại toàn bộ số tiền tạm ứng án phí đã nộp cho ông H.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 2 Điều 26 và điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 256, Điều 298, Điều 301 và Điều 427 Bộ luật Dân sự năm 2005; Điều 688 Bộ luật Dân sự năm 2015. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, xử:
1- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Hà Văn H.
Buộc ông Hoàng Ngọc Bảo V và bà Ngô Thị Nh phải thực hiện nghĩa vụ liên đới trả lại cho ông Hà Văn H 200.000.000 đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thi hành án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự
2- Về án phí:
Buộc ông Hoàng Ngọc Bảo V và bà Ngô Thị Nh phải chịu 10.000.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Trả lại cho ông Hà Văn H toàn bộ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 5.000.000 đồng theo Biên lai số AA/2018/0000031 ngày 03 tháng 6 năm 2019 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị.
Ông Hà Văn H có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Ông Hoàng Ngọc Bảo V và bà Ngô Thị Nh có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND thành phố Đ; - Phòng GĐKT TAND tỉnh Q.Trị; - Chi cục THADS T.P Đông Hà; - Lưu: Hồ sơ, Tổ HCTP. | THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Quốc Huy |