vanban.org

Bản án 24/2018/HSST — Hình sự

TAND TX. Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh Tuyên án 22/10/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lê Trung K phạm tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ”

Xử phạt bị cáo Lê Trung K 12 (mƣời hai) tháng tù; nhƣng cho hƣởng án treo; thời gian thử thách 24 (hai bốn) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND xã Ngh N, thành phố Đ H, tỉnh Quảng Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Trung K - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Trung K phạm tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ HỒNG LĨNH
TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2018/ HSST
Ngày 22 / 10 /2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HỒNG LĨNH- TỈNH HÀ TĨNH

Với thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

Thầm phán - Chủ Tọa phiên tòa: Ông Phạm Đức Quang

Hội thẩm nhân dân

1. Ông Phan Văn Đƣờng

2. Ông Nguyễn Thị Cƣơng

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: bà Lê Thị Đức Vinh - Thƣ ký Tòa án

Đại diện VKSND thị xã Hồng Lĩnh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Anh Thơ - Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 22 tháng 10 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 24/2018/HSST ngày 13 tháng 09 năm 2018 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 24/2018/QĐXXST- HS ngày 08 tháng 10 năm 2018 đối với bị cáo:

Lê Trung K; tên gọi khác: Không; sinh ngày 09 tháng 11 năm 1979, tại xã Ngh N, thành phố Đ H, tỉnh Quảng Bình; nơi cƣ trú: Thôn T N, xã Ngh N, thành phố Đ H, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt nam; con ông Lê Văn B và bà Đào Thị L; có vợ Trần Thị Th H; có 02 con, lớn nhất 05 tuổi, nhỏ nhất 01 tuổi; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cƣ trú từ ngày 17/7/2018 đến nay tại xã Ngh N , thành phố Đ H, tỉnh Quảng Bình. Có mặt.

- Ngƣời bị hại:

1. Ông Phạm Văn A, sinh năm 1966; trú tại Thôn L M, xã V L, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh. (Đã chết trong vụ tai nạn giao thông)

- Đại diện hợp pháp cho ngƣời bị hại:

Ông Hoàng Văn L , sinh năm 1954; nghề nghiệp: Làm ruộng; trú tại: Thôn T C, xã P L, huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh.( ngƣời đƣợc bà Nguyễn Thị A, anh Phạm Minh P, anh phạm Minh Đ, chị Phạm Thị Ng là vợ và các con của ông Phạm Văn A uỷ quyền). Vắng mặt.

2. Ông Lê Tiến D, sinh năm 1966; trú tại Thôn L M, xã V L, huyện C L, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do. Vắng mặt.

Ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Nguyễn Quốc T, sinh năm 1970; trú tại: Thôn N H, xã H T, huyện B T, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Kinh doanh vận tải. Vắng mặt.

2. Chị Lê Thị M, sinh năm 1970; trú tại: Thôn L M, xã V L, huyện C L, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do.Vắng mặt.

Ngƣời làm chứng:

1. Hoàng Vĩnh T, sinh năm 1983; trú tại: phƣờng A C, thành phố Huế. Có mặt.

2. Anh Phan Thành C, sinh năm 1976; trú tại: Thôn T H, xã H T, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.

3. Anh Nguyễn Quốc T1, sinh năm 1993; trú tại: Thôn N H, xã H T, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình. Có mặt.

4. Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1972; Thôn L M xã V L, huyện C L, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt.

5. Chị Bùi Thị Thanh T, sinh năm 1972; Xóm L, xã K L, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh. Có mặt.

6. Anh Nguyễn Mạnh T2, sinh năm 1993; trú tại: Xóm Y S, xã T Y, huyện T C, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 15/5/2018 Hoàng Vĩnh T, điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 73B - 00497 trên xe có Lê Trung K nằm ở phía sau, Nguyễn Quốc T1 và Phan Thanh C đều là phụ xe, chở khách xuất phát từ bến xe Nƣớc Ngầm, thành phố Hà Nội đi theo Quốc lộ 1A về tỉnh Quảng Bình. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày xe ô tô dừng tại thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình để ăn cơm. Sau khi ăn cơm xong thì đổi lái, Lê Trung K điều khiển xe ô tô 73B-00497 còn Hoàng Vĩnh T ra phía sau nằm ngủ. K điều khiển xe ô tô đi đến ngã tƣ Bùi Cầm Hổ thuộc thị xã Hồng Lĩnh thì rẽ trái đi theo Quốc lộ 1A chiều Bắc - Nam, khi đi đến Cửa hàng xăng dầu Phú Quý thuộc tổ dân phố 1, phƣờng Đậu Liêu, thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh, K điều khiển xe ô tô vào cửa hàng để bơm dầu. Sau khi bơm dầu xong, lúc này khoảng 01 giờ 00 phút ngày 16/5/2018. K điều khiển xe ô tô 73B-00497 đi theo đƣờng dẫn từ cửa hàng xăng dầu ra Quốc lộ 1A. Do không chú ý quan sát nên khi đến nơi giao nhau với Quốc lộ 1A Lê Trung K đã không nhƣờng đƣờng cho xe mô tô biển kiểm soát 38C1-29279 do ông Phạm Văn A điều khiển phía sau chở ông Lê Tiến D, đều trú tại Thôn L M, xã V L, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh đang đi trên Quốc lộ 1A chiều hƣớng Bắc - Nam. Khi xe ô tô đi đến làn đƣờng thứ hai dành cho xe cơ giới (tính từ dải phân cách ở giữa) xe hơi chéo so với Quốc lộ 1A thì phía trƣớc bên phải đầu xe mô tô va chạm vào phía trƣớc bên trái đầu xe ô tô gây tai nạn, làm xe mô tô và ông A, ông D ngã trên làn đƣờng dành cho xe cơ giới sát dải phân cách. Hậu quả ông Phạm Văn A bị đa chấn thƣơng, gãy các đốt sống cổ dẫn đến tử vong, ông Lê Tiến D bị thƣơng, xe ô tô 73B-00497 và xe mô tô 38C1-29279 bị hƣ hỏng.

Qua khám nghiệm hiện trường thấy: Hiện trƣờng là đoạn đƣờng đôi tại Km 487+600 Quốc lộ 1A thuộc tổ dân phố 1, phƣờng Đậu Liêu, thị xã Hồng Lĩnh, mặt đƣờng trải thảm nhựa bằng phẳng, ở giữa có dải phân cách cứng cố định chia đƣờng thành hai chiều xe chạy. Nơi xảy ra vụ tai nạn giao thông nằm ngoài khu vực đông dân cƣ, có khoảng mở dải phân cách rộng 35m hai đầu cắm biển báo Cấm đi ngƣợc chiều (P.102), mép đƣờng bên phải chiều đi Bắc - Nam có biển báo chỗ quay đầu xe (I.409), biển báo nguy hiểm giao nhau với đƣờng không ƣu tiên (W.207b) và biển báo chỉ dẫn vị trí ngƣời đi bộ sang ngang (I.423b). Chiều xe chạy Bắc - Nam có phần đƣờng dành cho xe thô sơ rộng 2m, phần đƣờng dành cho xe cơ giới rộng 7m, ở giữa có vạch sơn kẻ đứt quảng chia đƣờng thành hai làn xe chạy. Lấy mép nhựa bên phải Quốc lộ 1A chiều Bắc - Nam làm mép chuẩn và biển báo Cấm đi ngƣợc chiều ở phía nam khoảng mở dải phân cách làm điểm mốc. Sau khi tai nạn xảy ra, nạn nhân đã đƣợc đƣa đi cấp cứu, các dấu vết, phƣơng tiện trên hiện trƣờng nhƣ sau:

- Xe ô tô BKS 73B-00497 đỗ trên đƣờng, đầu xe hƣớng Đông Nam, đuôi xe hƣớng Tây Bắc, tâm bánh sau bên trái cách điểm mốc 45,1m, cách mép chuẩn 0,5m, tâm bánh trƣớc bên trái cách mép chuẩn 3,1m. (Kí hiệu số 01)

- 01 (một) vết cày trên mặt đƣờng nhựa dài 1m, chiều hƣớng Tây Bắc - Đông Nam, điểm đầu cách mép chuẩn 3,7m, cách tâm bánh trƣớc bên trái xe ô tô 0,9m, điểm cuối vết cày cách mép chuẩn 4,4m. (Kí hiệu số 02)

- Vùng mảnh vỡ kích thƣớc 2x2m, tâm nằm tại điểm cuối vết số 02. (Kí hiệu số 03)

- Vết cày trên mặt đƣờng nhựa dài 0,9m, chiều hƣớng Tây Bắc-Đông Nam, điểm đầu cách mép chuẩn 7,25m, cách tâm bánh trƣớc xe mô tô 0,3m, điểm cuối nằm tại giá để chân phía trƣớc bên trái xe mô tô. (Kí hiệu số 04)

- Xe mô tô BKS 38C1 - 29279 ngã nghiêng bên trái, đầu xe hƣớng Tây, đuôi xe hƣớng Đông, tâm bánh trƣớc cách mép chuẩn 7,1m, cách điểm cuối vết số 02 là 3,1m, tâm bánh sau cách mép chuẩn 8,2m. (Kí hiệu số 05)

Khám nghiệm dấu vết trên xe ô tô biển kiểm soát 73B - 00497: Ốp sắt vỏ xe phía trƣớc bên trái bị móp méo, cong vênh, trầy xƣớc, bong sơn chiều hƣớng từ sau ra trƣớc, từ ngoài vào trong, kích thƣớc 98x114cm. Tâm vết cách mặt đất 93cm, cách điểm đầu xe 158cm. Trên bề mặt có đèn đơ bi và đèn xi nhan đã bị gãy vỡ rời khỏi xe.

- Mặt ngoài thanh kim loại khung sƣờn đỡ bình Ắc Quy bên trái có vết bong bụi, bong sơn kích thƣớc 15x4cm. Tâm vết cách mặt đất 38cm, cách điểm đầu xe 113cm.

- Ốp cửa buồng lái phía trƣớc bên trái bị gãy, rời khỏi chốt định vị.

- Kính chắn gió buồng lái phía trƣớc bên trái bị nứt vỡ kích thƣớc 120x80cm. Tâm vết cách mặt đất 175cm, cách điểm đầu xe 67cm.

- Ốp nhựa ba đơ sốc phía trƣớc bên trái bị nứt vỡ kích thƣớc 20x22cm. Tâm vết cách mặt đất 67cm, cách điểm đầu xe 20cm.

Khám nghiệm dấu vết trên xe Xe mô tô BKS 38C1-29279: Nắp kính bảo vệ công tơ mét bị vỡ. Gƣơng chiếu hậu phía trƣớc bên trái bị gãy gập, cong vênh chiều hƣớng từ trƣớc ra sau, mặt kính bị vỡ rời khỏi gƣơng. Tay phanh bên phải bị trầy xƣớc, mài mòn kim loại kích thƣớc 18x1cm, trên bề mặt còn bám dính một số chất dạng sơn màu vàng. Cụm đèn chiếu sáng, đèn xi nhan phía trƣớc bên phải bị gãy vỡ, rời khỏi xe. Ƣớm chắn gió phía trƣớc bên phải bị nứt vỡ, mài mòn nhựa kích thƣớc 30x18cm, chiều hƣớng từ trƣớc ra sau. Tâm vết cách mặt đất 73cm. Chắn bùn phía trƣớc bị nứt vỡ, trầy xƣớc bong tróc sơn kích thƣớc 40x14cm, chiều hƣớng từ trƣớc ra sau. Bánh trƣớc bị cong vênh biến dạng, một số tăm xe đã rời khỏi vành, chiều hƣớng từ trƣớc ra sau.Cặp giảm xóc trƣớc bị cong vênh, lệch so với vị trí ban đầu một góc 12 độ so với vị trí ban đầu, chiều hƣớng từ trƣớc ra sau. Mặt ngoài giảm xóc phía trƣớc bên phải có vết trầy xƣớc bong tróc sơn kích thƣớc 22x2cm, tâm vết cách mặt đất 22cm. Ƣớm chắn gió phía trƣớc bên trái bị nứt vỡ kích thƣớc 35x34cm. Ốp nhựa bọc ngoài ốc định vị bên trái trục trƣớc bị mài mòn nhựa kích thƣớc 2x2cm. Mặt ngoài tay lái bên trái bị mài mòn kim loại kích thƣớc 3x2cm. Mặt ngoài giá để chân phía sau bên trái bị mài mòn kim loại kích thƣớc 3x2cm. Mặt ngoài giá bảo vệ bên trái phía sau yên xe bị mài mòn kích thƣớc 14x4cm. Mặt ngoài ốp sắt bảo vệ ống xả bị móp méo kích thƣớc 18x4cm, trên bề mặt còn bám dính một số chất màu bạc. Bàn đạp khởi động có dính một số chất màu trắng kích thƣớc 9x01cm. Tâm vết cách mặt đất 45cm.

*) Xem xét dấu vết trên tử thi ông Phạm Văn A: Cung lông mày phải có một vết thƣơng rách da kích thƣớc 03x01cm. Gò má phải có khối tụ máu kích thƣớc 04x04cm, vỡ xƣơng gò má phải.Vùng cổ sƣng bầm tím, gãy các đốt sống cổ.Vùng vai phải có bết thƣơng xây xát da kích thƣớc 06 x 04cm. Bụng chƣớng nhẹ. Mặt ngoài đùi phải có vết thƣơng rách da kích thƣớc 07x 02cm, gãy xƣơng đùi phải. Vùng đầu gối phải có vết xây xát bầm tím kích thƣớc 06 x 04cm, tràn dịch khớp gối phải. Mặt trƣớc cẳng chân phải có vết thƣơng xây xát da kích thƣớc 06x 06cm. Bác sỹ pháp y kết luận: Nguyên nhân chết của ông Phạm Văn A là do đa chấn thƣơng, gãy các đốt sống cổ.

Tại phiên toà ngƣời làm chứng anh Hoàng Vĩnh T, anh Nguyễn Quốc T1 trình bày thống nhất tại thời điểm xẩy ra vụ tai nạn giao thông hai anh đang ngủ trên xe nên không nhìn thấy, tuy nhiên sau khi tai nạn xẩy ra hai anh xuống xe và phát hiện chiếc xe ô tô do bị cáo điều khiển đang dừng hơi vuông góc với làn đƣờng xe chạy, phía đầu xe có móp mép, xe mô tô nằm ngã nghiêng trên làn đƣờng xe cơ giới thứ nhất sơ với giải phân cách, trên đƣờng có hai ngƣời đàn ông một ngƣời còn tỉnh táo, một ngƣời bất tỉnh. Còn chị Bùi Thị Thanh T trình bày khi tai nạn xẩy ra chị không nhìn thấy nhƣng sau khi tai nạn đã xẩy ra chị nhìn thấy xe ô tô đang dừng hơi ngang trên đƣờng quốc lộ và đuôi xe quay vào phía ốt xăng.

Bản cáo trạng số 27/CT- VKS- HL ngày 13 tháng 9 năm 2018 Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hồng Lĩnh truy tố bị cáo Lê Trung K về tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị HĐXX: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Lê Trung K từ 12 đến 15 tháng tù; nhƣng cho hƣởng án treo; thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng. Giao bị cáo cho UBND xã Ngh N, thành phố Đ H, tỉnh Quảng Bình giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo có điều kiện hoàn cảnh kinh tế khó khăn và vụ tai nạn xẩy ra cũng có một phần lỗi của ngƣời bị hại nên không cần thiết cấm bị cáo hành nghề lái xe.

Về dân sự: Bị cáo Lê Trung K và anh Nguyễn Quốc T chủ xe ô tô 73B-00497 tự nguyện bồi thƣờng khắc phục hậu quả cho gia đình ông Phạm Văn A số tiền 150.000.000 đồng và ông Lê Tiến D số tiền 35.000.000 đồng, anh Nguyễn Quốc T và chị Lê Thị M đã tự khắc phục, sửa chữa xe ô tô và xe mô tô liên quan trong vụ tai nạn. Hiện nay không ai có ai yêu cầu gì thêm về dân sự nên miễn xét.

Về vật chứng: Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Trả lại giấy phép lái xe hạng E số 440076000975 do sở giao thông vận tải tỉnh Thừa thiên Huế cấp ngày 31/12/2014 cho Lê Trung K .

Còn một xe ô tô màu trắng vàng, nhãn hiệu: THACO, biển kiểm soát 73B - 00497; 01xe mô tô màu trắng đen bạc, nhãn hiệu: HONDA, biển kiểm soát 38C1-29279 là tài sản hợp pháp của anh Nguyễn Quốc T và chị Lê Thị M, sau khi làm rõ Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là đúng pháp luật nên miễn xét.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 , khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 3, khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, đề nghị xử buộc: Bị cáo Lê Trung Kiên phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã đƣợc thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

Về thủ tục tố tụng: Cơ quan điều tra Công an và Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hồng Lĩnh trong quá trình nhận xử lý tin báo tội phạm, quá trình điều tra, truy tố, thu thập chứng cứ, tài liệu đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Các chứng cứ tài liệu do Điều tra viên, Kiểm sát viên thu thập có tại hồ sơ là hợp pháp. Bị cáo và những ngƣời tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về nội dung: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Lê Trung K khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình là: Khoảng 01 giờ 00 phút ngày 16/5/2018, tại Km 487+ 600 Quốc lộ 1A thuộc địa phận tổ dân phố 1, phƣờng Đậu Liêu, thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh, sau khi dừng xe ô tô bơm dầu tại Cửa hàng xăng dầu Phú Quý thì bị cáo điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 73B - 00497 đi theo đƣờng dẫn từ Cửa hàng xăng dầu ra Quốc lộ 1A. Khi đến nơi giao nhau với Quốc lộ 1A do thiếu chú ý quan sát, không nhƣờng đƣờng cho xe mô tô biển kiểm soát 38C1-29279 do ông Phạm Văn A điều khiển phía sau chở ông Lê Tiến D đang chạy trên Quốc lộ 1A chiều Bắc - Nam nên phía trƣớc bên phải đầu xe mô tô va chạm vào phía trƣớc bên trái đầu xe ô tô gây tai nạn. Hậu quả ông Phạm Văn A bị tử vong, ông Lê Tiến D bị thƣơng.

Lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với sơ đồ hiện trƣờng, biên bản khám nghiệm xe ô tô, xe mô tô, biên bản khám nghiệm tử thi và các chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Đủ cơ sở kết luận Lê Trung K phạm tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự nhƣ cáo trạng Viện kiểm sát truy tố là đúng ngƣời, đúng tội, đúng pháp luật.

Hội đồng xét xử thấy: Lê Trung K đƣợc học luật giao thông đƣờng bộ, có giấy phép lái xe hạng E, đủ điều kiện và trực tiếp điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 73B - 00497 tham gia giao thông. Lẽ ra, khi đến nơi giao nhau giữa đƣờng dẫn của cửa hàng xăng dầu với Quốc lộ 1A bị cáo phải chú ý quan sát, nhƣờng đƣờng cho các phƣơng tiện tham gia giao thông trên đƣờng khi đảm bảo an toàn mới điều khiển xe ô tô từ đƣờng dẫn cửa hàng xăng dầu ra đƣờng chính nhƣng do ý thức chấp hành Luật giao thông đƣờng bộ kém, thiếu quan sát, không nhƣờng đƣờng nên đã gây ra vụ tại nạn giao thông, hậu quả làm ông A chết và ông D bị thƣơng. Hành vi phạm tội của bị cáo không chỉ vi phạm vào khoản 3 Điều 24 Luật giao thông đƣờng bộ mà còn xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của ngƣời khác, gây đau thƣơng mất mát cho gia đình ngƣời bị hại, ảnh hƣởng đến trật tự an toàn giao thông trên địa bàn, gây hoang mang lo lắng cho mọi ngƣời tham gia giao thông. Vì vậy, hôm nay đƣa bị cáo Lê Trung K ra xét xử và lên một mức án tƣơng xứng với hành vi hậu quả mà bị cáo đã gây ra nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên cũng cần xét trong vụ tai nạn giao thông này, lẽ ra khi ông A điều khiển xe mô tô khi đến đoạn đƣờng có giao nhau với đƣờng dẫn vào cửa hàng xăng dầu cũng phải chú ý quan sát các phƣơng tiện trong cửa hàng xăng dầu đi ra để giảm tốc độ, nhằm đảm bảo an toàn cho chính mình và những ngƣời tham gia giao thông khác nhƣng ông A không làm đƣợc điều này mà chạy xe tốc độ nhanh, thiếu quan sát nên vụ tai nạn xẩy ra có một phần lỗi của ngƣời bị hại. Bị cáo có nhân thân tốt, không có tình tiết tăng nặng, sau khi phạm tội đã bồi thƣờng đầy đủ, tại phiên tòa khai báo thành khẩn, đại diện hợp pháp của ngƣời bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt, bố bị cáo đƣợc Nhà nƣớc tặng thƣởng Huy chƣơng kháng chiến hạng nhì và đƣợc hƣởng chính sách nhƣ thƣơng binh nên bị cáo đƣợc hƣởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Trên cơ sơ phân tích, đánh giá các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và đối chiếu với Nghị quyết số 02/2018/NQ - HĐTP, ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, bị cáo đủ điều kiện đƣợc hƣởng án treo nên áp dụng Điều 65 BLHS xử bị cáo ở mức 12 tháng tù nhƣng cho hƣởng án treo là có căn cứ, đúng pháp luật.

Ngoài ra trong quá trình tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Hồ ng Lĩ nh cũng đã ra yêu cầu định giá tài sản số 14,15 ngày 20/5/2018, xác định giá trị thiệt hại chiếc xe ô tô 73B-00497 của anh Nguyễn Quốc T và xe mô tô 38C1-29279 của bà Lê Thị M và ra Quyết định trƣng cầu giám định số 27, ngày 06/6/2018 xác định tỷ lệ tổn thƣơng cơ thể của ông Lê Tiến D nhƣng anh T, bà M đã từ chối việc định giá tài sản, còn ông D từ chối giám định nên không có căn cứ để giải quyết.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo có điều kiện hoàn cảnh gia đình khó khăn, con còn nhỏ, vụ tai nạn xẩy ra cũng có một phần lỗi của ngƣời bị hại nên không cần thiết cấm bị cáo hành nghề lái xe.

- Về dân sự: [9] Bị cáo Lê Trung K và anh Nguyễn Quốc T chủ xe ô tô 73B-00497 tự nguyện bồi thƣờng thiệt hại cho gia đình ông Phạm Văn A số tiền 150.000.000 đồng và ông Lê Tiến D số tiền 35.000.000 đồng, anh Nguyễn Quốc T và chị Lê Thị M đã tự khắc phục, sửa chữa xe ô tô và xe mô tô liên quan trong vụ tai nạn. Hiện nay không ai có yêu cầu gì thêm về dân sự nên miễn xét.

- Về vật chứng: [10] Trả lại giấy phép lái xe hạng E số 440076000975 do sở giao thông vận tải tỉnh Thừa thiên Huế cấp ngày 31/12/2014 đang đƣợc lƣu giữ tại hồ sơ vụ án cho Lê Trung K theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Còn một xe ô tô màu trắng vàng, nhãn hiệu: THACO, biển kiểm soát 73B - 00497; 01xe mô tô màu trắng đen bạc, nhãn hiệu: HONDA, biển kiểm soát 38C1-29279 là tài sản hợp pháp của anh Nguyễn Quốc T và chị Lê Thị M, sau khi làm rõ Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu.

- Về án phí: [11] Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật..

- Về quyền kháng cáo: [12] Bị cáo, ngƣời bị hại, ngƣời đại diện hợp pháp của ngƣời bị hại, ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Lê Trung K phạm tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ”

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Lê Trung K 12 (mƣời hai) tháng tù; nhƣng cho hƣởng án treo; thời gian thử thách 24 (hai bốn) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND xã Ngh N, thành phố Đ H, tỉnh Quảng Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND xã Ngh N, thành phố Đ H, tỉnh Quảng Bình giám sát, giáo dục bị cáo. Trong trƣờng hợp bị cáo Lê Trung K thay đổi nơi cƣ trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách ngƣời đƣợc hƣởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 2 lần trở lên thì Toà án có thể quyết định buộc ngƣời đƣợc hƣởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hƣởng án treo.

2. Về vật chứng: Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Trả lại giấy phép lái xe hạng E số 440076000975 do sở giao thông vận tải tỉnh Thừa thiên Huế cấp ngày 31/12/2014 đang đƣợc lƣu giữ tại hồ sơ vụ án cho bị cáo Lê Trung K.

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 3, khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử buộc: Bị cáo Lê Trung K phải nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4.Về quyền kháng cáo: Bị cáo Lê Trung K có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đại diện hợp pháp của ngƣời bị hại ông Hoàng Văn Lục, ngƣời bị hại ông Lê Tiến D, ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Lê Thị M, anh Nguyễn Quốc T vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc kể từ ngày bản án đƣợc niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ