- Tranh chấp gì? án hình sự — "Võ Xuân L - “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”. - phạm tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thô…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Võ Xuân L phạm tội: “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 24/2018/HSST Ngày: 26/3/2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Bá Đức.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Quý Hiền và bà Trần Thị Quỳnh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Trung – Thư ký Tòa án của Tòa
án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng
Nai: Ông Trìu A Sám - Kiểm sát viên.
Trong ngày 26 tháng 3 năm 2018 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 29/2018/HSST ngày 14/3/2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2018/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 3 năm 2018 đối với bị cáo:
Họ và tên: Võ Xuân L, sinh năm 1979; Tại: Bình Định; Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn B, xã H, huyện H1, tỉnh Bình Định; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Võ Văn T (đã chết) và bà Nguyễn Thị Đ (đã chết); Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại (Có mặt).
- Bị hại: Ông Nguyễn Minh Đ1, sinh năm 1992 (Đã chết).
Người đại diện theo pháp luật của bị hại: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1970.
Địa chỉ: Thôn L, xã M, huyện T, tỉnh Hải Dương (Vắng mặt).
- Bị đơn dân sự: Ông Trần Minh P, sinh năm 1977.
Địa chỉ: 49C/1 đường T, phường X, Quận Y, TP Hồ Chí Minh (Vắng mặt).
- Người làm chứng:
1/ Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1990 (Vắng mặt).
2/ Ông Trần Tuấn A, sinh năm 1995 (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 13 giờ 30 phút ngày 07/10/2017, Võ Xuân L (có giấy phép lái xe ô tô theo quy định) điều khiển xe ô tô khách biển số 51B-229.16 lưu thông trên đường Quốc lộ 1A hướng từ Bình Định đi TP Hồ Chí Minh. Đến khoảng 02 giờ 35 phút ngày 08/10/2017, Võ Xuân L điều khiển xe đi đến Km1845+100, Quốc lộ 1A thuộc ấp T, xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Nai, ngã tư đường giao nhau giữa đường Quốc lộ 1A và đường vào Khu công nghiệp B (có đèn vàng nhấp nháy báo hiệu) thì va đụng với xe mô tô biển số 34B3-459.34 do ông Nguyễn Minh Đ1 điều khiển lưu thông trên đường Khu công nghiệp B hướng từ Công ty S đi ra Quốc lộ 1A làm ông Đ1 và xe mô tô ngã xuống đường. Hậu quả ông Đ1 bị thương được đưa đi cấp cứu, sau đó đến 03 giờ cùng ngày đã chết tại Bệnh viện Đa khoa huyện Trảng Bom.
Tại Biên bản khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn giao thông ngày 08/10/2017:
- Vị trí xe ô tô khách 51B-229.16 dừng bên phần đường bên trái, đầu xe hướng về Biên Hòa, đo từ đầu trục bánh xe bên phải đến vạch sơn phân làn 0,9m; đo từ đầu trục sau bánh xe bên phải đến vạch sơn phân làn là 1m
- Vết phanh xe ô tô dài 24,4m do bánh sau bên trái để lại trên mặt đường, đầu vết phanh nằm trên phần đường bên phải đo từ đầu vết phanh đến dải phân cách là 1,6m; đo điểm cuối vết phanh đến vạch sơn phân làn đường bên trái là 1,1m.
- Vị trí xe mô tô 34B3-459.34 nằm ngả nghiêng bên phải, đầu xe hướng về Công ty Pousung, đo từ trục trước bánh xe đến vạch sơn phân làn đường là 12m; đo từ trục sau bánh xe đến vạch sơn phân làn đường là 11,3m; đo từ trục sau bánh xe mô tô đến đầu trục sau bên trái bánh xe ô tô là 16m.
- Vết cày xe mô tô dài 23,5m nằm bên phần đường bên trái, đo từ đầu vết cày đến vạch sơn phân làn đường là 2,2m, đo đến đầu vết phanh xe ô tô là 20,1m.
- Vết máu (10 x 10 cm) đo đến trục sau bánh xe mô tô là 0,8m; đo đến vạch sơn phân làn đường là 10m
- Trụ điện đường số 04 đo đến đầu trục sau bánh xe ô tô bên trái là 3,5m.
Tại Bản kết luận giám định số: 558/KLGĐ-PC54(Đ3) ngày 04/12/2017 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai kết luận:
- Hệ thống dấu vết nứt vỡ, trược xước, dính sơn màu xanh tại các chi tiết bên trái: ốp nhựa thân xe, yếm chắn gió; gãy khuyết gác chân trước; cong vênh nhẹ cần số của xe mô tô biển số 34B3-459.34 hình thành do quá trình va chạm với mặt ngoài bên trái cản trước đầu xe, đèn chiếu sáng cùng biển số trước của xe ô tô biển số 51B-229.16.
- Hệ thống dấu vết cong vênh, trượt xước, mài mòn các chi tiết còn lại bên phải của xe mô tô biển số: 34B3-459.34 hình thành do quá trình va chạm với mặt đường khi xe ngã.
Tại Bản kết luận giám định số: 528/KLGĐ-PC54(Đ3) ngày 24/10/2017 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai kết luận: Vận tốc của xe ô tô biển số 51B-229.16 trước thời điểm xảy ra tai nạn giao thông cho kết quả: khoảng từ 65,9km/h đến khoảng 70,4km/h.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số: 622/PC54-KLGĐPY ngày 17/10/2017 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai đối với Nguyễn Minh Đức kết luận:
- Xét nghiệm: Nồng độ cồn trong máu: 54,3mmol/l = 250,21 mg/100ml.
- Dấu hiệu chính: Xây sát sưng u duói da đầu vùng đỉnh trái, xây xát da đầu vùng lưng bên phải. Nứt xương đỉnh, nứt khớp thái dương-đỉnh, chẩm trái.
- Nguyên nhân tử vong: Chấn thương sọ não nặng, nứt xương đỉnh, nứt khớp thái dương-đỉnh, chẩm trái.
Tại Cáo trạng số: 22/CT/VKS-HS ngày 09/02/2018, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai đã truy tố bị cáo Võ Xuân L về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo quy định tại khoản 1 Điều 202 Bộ luật Hình sự năm 1999.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 202; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 60 Bộ luật Hình sự năm 1999.
Xử phạt bị cáo Võ Xuân L với mức án từ 12 (Mười hai) tháng đến 14 (Mười bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 (Hai mươi bốn) tháng đền 28 (Hai mươi tám) tháng kể từ ngày tuyên án.
Người đại diện theo pháp luật của bị hại bà Nguyễn Thị H (mẹ của ông Đ1) vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có lời khai tại Cơ quan điều tra cũng như đã có đơn cam kết bãi nại có xác nhận của Công an Xã M, huyện T, tỉnh Hải Dương (Bút lục số 61) xác định vào ngày 08/10/2017 bị cáo đã gây tai nạn cho ông Nguyễn Minh Đ1 làm ông Đ1 bị thương sau đó được đưa đi cấp cứu và đã chết tại Bệnh viện Đa khoa huyện Trảng Bom; bị cáo đã bồi thường cho phía bị hại 230.000.000đ (Hai trăm ba mươi triệu đồng).
Người làm chứng ông Trần Anh T vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có lời khai tại Cơ quan điều tra đã xác định: Ông T là em rể bà con với ông Nguyễn Minh Đ1. Khoảng hơn 02 giờ ngày 08/10/2017, ông T điều khiển xe mô tô biển số 60B5-759.72 chạy trước đi cùng với ông Đ1 điều khiển xe mô tô biển số 34B3-459.34 chạy sau cách khoảng 3-4 mét trên đường chợ Mới lên Khu công nghiệp B, khi đi đến ngã tư giao nhau giữa đường Quốc lộ 1A và đường Khu công nghiệp, ông T phát hiện trên đường Quốc lộ 1A có ánh đèn xe ô tô nên phanh xe dừng lại gần mép đường còn ông Đ1 vẫn điều khiển cho xe chạy qua đường Quốc lộ 1A nên đã xảy ra vụ tai nạn trên (Bút lục số 55, 56).
Bị cáo L không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát và lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về áp dụng pháp luật: Bị cáo thực hiện hành vi bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom truy tố về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” vào ngày 08/10/2017 nên căn cứ khoản 1 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 cần áp dụng Bộ luật Hình sự năm 1999 đối với bị cáo.
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Trảng Bom, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người đại diện theo pháp luật của người bị hại, người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai nhận của bị cáo tại Cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của người đại diện theo pháp luật của bị hại, bị đơn dân sự, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn giao thông (Bút lục số 26, 27); Bản kết luận giám định pháp y về tử thi (Bút lục số 39). Như vậy, xét đã có đủ cơ sở để xác định: Vào khoảng 02 giờ 35 phút ngày 08/10/2017 tại ngã tư giữa đường Quốc lộ 1A vào đường Khu công nghiệp B có tín hiệu đèn vàng nhấp nháy thuộc Km1845+100, Quốc lộ 1A thuộc ấp T, xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Nai, bị cáo Võ Xuân L (có giấy phép lái xe ô tô theo quy định) điều khiển xe ô tô khách biển số 51B-229.16 lưu thông trên đường Quốc lộ 1A hướng từ Long Khánh đi TP Hồ Chí Minh đã không quan sát kỹ, không giảm tốc độ nên đã va đụng vào xe mô tô biển số 34B3-459.34 do ông Nguyễn Minh Đ1 điều khiển đang lưu thông trên đường Khu công nghiệp B ra Quốc lộ 1A; hậu quả làm ông Đ1 tử vong. Hành vi của bị cáo đã vi phạm điểm c khoản 3 Điều 10 Luật Giao thông đường bộ nên có đủ yếu tố kết luận bị cáo Võ Xuân L phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo khoản 1 Điều 202 Bộ luật Hình sự năm 1999.
. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến an toàn công cộng, trật tự công cộng nên cần xử phạt bị cáo một mức án tương xứng hành vi của bị cáo. Tuy nhiên, khi lượng hình cũng cần xem xét đến việc bị cáo tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; gia đình bị cáo có công cách mạng, có bà ngoại được truy tặng danh hiệu “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”; trong vụ tai nạn trên cũng có một phần lỗi của bị hại là điều khiển xe mô tô trong tình trạng đã sử dụng rượu bia (nồng độ cồn trong máu là 250.21mg/100ml), không chú ý quan sát khi đi vào ngã tư, không nhường đường cho xe từ đường chính nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 đối với bị cáo để xem xét giảm nhẹ cho bị cáo khi quyết định hình phạt thể hiện sự nhân đạo của pháp luật Nhà nước ta. Xét thấy, bị cáo L có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 và bị cáo có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng nên cần áp dụng Điều 60 Bộ luật Hình sự năm 1999 cho bị cáo L được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách theo quy định là đủ tác dụng giáo dục, răn đe phòng ngừa chung.
. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom phù với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
. Về vật chứng vụ án gồm xe ô tô biển số 51B-229.16 và xe mô tô biển số 34B3-459.34 Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chủ sở hữu là phù hợp với quy định của pháp luật.
. Về trách nhiệm dân sự: Gia đình bị cáo và bị đơn dân sự đã bồi thường cho gia đình người bị hại số tiền 230.000.000đ (Hai trăm ba mươi triệu triệu đồng), được phía gia đình người bị hại làm đơn bãi nại và không yêu cầu gì nên không xem xét.
. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Võ Xuân L phạm tội: “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 202; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 60 Bộ luật Hình sự năm 1999.
Xử phạt: Võ Xuân L 01 (Một) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (Hai) năm tính từ ngày tuyên án (26/3/2018).
Giao bị cáo Võ Xuân L cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Bình Định theo dõi, giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật Thi hành án hình sự.
Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14.
Bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí HSST.
Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đại diện theo pháp luật bị hại, bị đơn dân sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án./.
| Nơi nhận: - TAT; - VKSND huyện Trảng Bom; - CA huyện Trảng Bom - THADS huyện Trảng Bom; - Bị cáo; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trần Bá Đức |