- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Đức L tàng trữ trái phép chất ma túy. - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS nă…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Đức L phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI CHÂU TỈNH HOÀ BÌNH ––––––––––– Bản án số: 24/2018/HS-ST | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Ngày: 19-06-2018. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI CHÂU, TỈNH HÒA BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lò Văn Dần
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Vì Văn Tùng
Bà Hà Thị Tuất
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Hảo – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình tham gia phiên tòa: Ông Bùi Văn Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 6 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 21/2018/TLST-HS ngày 25/5/2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:24/2018/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 6 năm 2018 đối với bị cáo:
Phạm Đức L, tên gọi khác: Không, sinh năm 1976 tại huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình; nơi ĐKHKTT: Xã Đ, huyện M, tỉnh Hòa Bình; nơi cư trú: Xóm T, Xã Đ, huyện M, tỉnh Hòa Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Đình Q (Phạm Văn Q) và bà Nguyễn Thị T; bị cáo có vợ là Trần Thị N (đã ly hôn) và chưa có con; tiền sự: Không; tiền án: 01 tiền án, ngày 30/12/1999 bị Tòa án nhân dân huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình xử phạt tổng số 48 tháng tù về tội Chứa chấp sử dụng trái phép chất ma túy và tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, phạt bổ sung tổng số tiền 40.000.000 đồng, phải nộp 50.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm, hiện bị cáo chưa chấp hành xong hình phạt bổ sung và án phí;
Bị cáo bị tạm giữ ngày 12/02/2018 và chuyển tạm giam ngày 15/02/2018. Bị cáo có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Vào khoảng 20 giờ ngày 11/02/2018 Phạm Đức L ra đường bắt xe khách đi hướng Hòa Bình – Sơn La khi đến khu vực xóm Xà Lĩnh, xã Pà Cò, huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình thì tiếp tục đi bộ vào trong xóm Hang Kia, xã Hang Kia, huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình để tìm mua ma túy. Khi đến xóm Hang Kia, Phạm Đức L gặp và hỏi mua ma túy với một người phụ nữ dân tộc Mông không quen biết với số tiền 300.000 đồng, sau khi nhận tiền, người phụ nữ đưa cho L một gói nhỏ, được gói bằng nilon màu xanh bên trong chứa Heroine. Sau khi mua được ma túy Phạm Đức L giấu vào túi quần rồi đi bộ ra Quốc lộ 6 bắt xe khách về nhà. Đến sáng ngày 12/02/2018 L lấy số ma túy mua được cho vào nắp kim tiêm màu trắng, dán kín và cho vào bên trong tuýp kem đánh răng P/S mà không cho ai biết, sau đó rủ Phạm Quang Long là anh trai ruột của mình đi vào nhà tạm giữ, tạm giam Công an huyện Mai Châu với mục đích chuyển ma túy cho em trai mình là Phạm Đức L. Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 12/02/2018 tại nhà tạm giữ, tạm giam Công an huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình. Cán bộ Đội thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp tiếp nhận đồ vật của Phạm Đức L gửi cho Phạm Đức Lưu là người đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ, tạm giam Công an huyện Mai Châu. Quá trình kiểm tra phát hiện bên trong tuýp kem đánh răng P/S có 01 nắp đậy kim tiêm bằng nhựa màu trắng được dán kín hai đầu, bên trong nắp kim tiêm có chứa chất bột màu trắng nghi là Heroine. Công an huyện Mai Châu đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, cùng tang vật.
Tại biên bản mở niêm phong cân trọng lượng tang vật xác định: Chất bột màu trắng trong ống nhựa có khối lượng 0,25 gam.
Tại bản kết luận số 77/KLGĐ-CAT-PC54 ngày 13/02/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hòa Bình, kết luận:“ Mẫu chất bột màu trắng dạng cục trong phong bì niêm phong ghi tên Phạm Đức L gửi giám định có khối lượng 0,25 gam là chất ma túy loại Heroine”.
Tại bản cáo trạng số: 25/CT – VKSMC – HS ngày 25/5/2018 Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Châu đã truy tố Phạm Đức Luận về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Châu luận tội vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Phạm Đức L phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015. Đề nghị xử phạt bị cáo Phạm Đức L từ 24 (hai mươi bốn) đến 30 (ba mươi) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 12/02/2018.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền được quy định tại khoản 5 Điều 249 BLHS.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 và điểm a, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị tuyên: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số Heroine của bị cáo Phạm Đức L trong vụ án.
Đối với Phạm Quang L và Phạm Đức L quá trình điều tra Phạm Quang L và Phạm Đức L không biết việc Phạm Đức L tàng trữ trái phép chất ma túy để chuyển cho Phạm Đức L nên Phạm Quang L và Phạm Đức L không phải chịu trách nhiệm. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử không xét đến.
Đối với người phụ nữ dân tộc Mông mà Phạm Quang L khai đã bán ma túy cho bị cáo tại xóm Hang Kia, xã Hang Kia, huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình quá trình điều tra và tại phiên không xác định được tên, tuổi, địa chỉ đề nghị Hội đồng xét xử không xét đến.
Tại phiên tòa, lời khai, lời trình bày ý kiến của bị cáo phù hợp với nội dung bản cáo trạng và các tài liệu khác trong hồ sơ vụ án như: Biên bản hỏi cung bị can; biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản niêm phong vật chứng; biên bản mở niêm phong cân xác định trọng lượng; kết luận giám định.
Lời sau cùng của bị cáo Phạm Đức L: Nhất trí với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát đề nghị truy tố, xét xử bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Nay bị cáo đã thục sự nhận ra lỗi lầm, bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của mình, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về hòa nhập với cộng đồng. Bị cáo xin được miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên Công an huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình,Viện kiểm sát, kiểm sát viên viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về việc định tội và hình phạt: Lời khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với nội dung biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, nên có đủ căn cứ kết luận:
Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 12/02/2018, tại nhà Tạm giữ, tạm giam Công an huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình. Phạm Đức L bị Công an huyện Mai Châu bắt quả tang đang tàng trữ 0,25 gam Heroine trong tuýp kem đánh răng nhãn hiệu P/S nhằm mục đích chuyển vào cho em trai là Phạm Đức Lưu đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình. Hành vi đó của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm trực tiếp đến chính sách quản lý Nhà nước về chất ma túy, như vậy Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Phạm Đức L phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015. Bản cáo trạng và luận tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Châu đối với bị cáo là có căn cứ pháp luật.
Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật, biết rõ tác hại của ma tuý đối với bản thân và xã hội, trong khi Nhà nước và toàn thể xã hội đang tìm mọi biện pháp đẩy lùi tệ nạn ma tuý ra khỏi cộng đồng bởi tác hại của ma túy, hành vi đó là nghiêm trọng, bị xã hội lên án. Song vì cần có chất ma tuý để chuyển vào nhà tạm giữ cho em trai Phạm Đức L, hiện đang tạm giam tại nhà Tạm giữ Công an huyện Mai Châu nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Mặt khác, ngày 30/12/1999 bị Tòa án nhân dân huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình xử phạt tổng số 48 tháng tù về tội Chứa chấp sử dụng trái phép chất ma túy và tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, phạt bổ sung tổng số tiền 40.000.000 đồng, phải nộp 50.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm, hiện bị cáo chưa chấp hành xong hình phạt bổ sung và án phí theo bản án số: 25/HSST ngày 30/12/1999. Đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tái phạm được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Bản thân bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng bản thân, sống lao động có ích cho gia đình và xã hội, làm gương cho các em mà ngược lại khi em trai đang bị tạm giam tại nhà Tạm giữ Công an huyện Mai Châu bị cáo liều lĩnh cất giấu ma túy vào cho em trai, điều đó thể hiện thái độ coi thường pháp luật của bị cáo Phạm Đức L. Do đó cần phải xử phạt bị cáo với một mức án nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội trong một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt đối với bị cáo, Hội đồng xét xử cũng đã đã cân nhắc tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015.
Về hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản,”. Xét thấy, theo tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa thể hiện bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, là lao động tự do thu nhập không ổn định, bị cáo sống phụ thuộc vào gia đình không có tài sản gì có giá trị nên không có khả năng thi hành. Do đó Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng của vụ án: Toàn bộ số Heroine cơ quan điều tra đã thu giữ của bị cáo Phạm Đức L sau khi giám định được niêm phong trong phong bì của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hòa Bình. Cần được tịch thu để tiêu hủy sau khi bản án có hiệu lực pháp luật. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 và điểm a, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đối với người Phụ nữ dân tộc Mông mà bị cáo Phạm Đức L khai đã bán ma túy cho bị cáo tại khu vực xóm Hang Kia, xã Hang Kia, huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình, quá trình điều tra và tại phiên tòa không xác định được họ tên, địa chỉ nên đề nghị cơ quan điều tra tiếp tục điều tra xác minh làm rõ khi có điều kiện.
Đối với Phạm Quang L và Phạm Đức L quá trình điều tra L và L không biết việc Phạm Đức L tàng trữ trái phép chất ma túy để chuyển cho L nên Phạm Quang L và Phạm Đức L không phải chịu trách nhiệm. Vì vậy Hội đồng xét xử không xét đến.
Bị cáo đang bị tạm giam, cần tiếp tục tạm giam bị cáo trong thời hạn 45 ngày, kể từ ngày tuyên án theo quy định tại khoản 1,3 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Về án phí: Bị cáo Phạm Đức L phải nộp án phí theo quy định tại Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án, theo quy định tại các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Phạm Đức L phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Phạm Đức L, 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 12/02/2018.
Miễn hình phạt bổ sung bằng tiền cho bị cáo Phạm Đức L.
2. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 và điểm a, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ 0,11 gam Heroine của bị cáo Phạm Đức L trong vụ án, gửi giám định, đã hoàn lại toàn bộ mẫu vật còn lại sau giám định, được niêm phong trong phong bì màu trắng dán kín, mang tên đối tượng Phạm Đức L. (Vật chứng nêu trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mai Châu theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số: 27/THA ngày 07/6/2018).
3. Căn cứ Điều 135 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết 326/ 2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án tuyên bị cáo Phạm Đức L phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Báo cho bị cáo Phạm Đức L được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh HB; - VKSND tỉnh HB; - Sở Tư pháp tỉnh HB; - Trại tạm giam; - VKSND huyện MC; - CA huyện MC; - THA hình sự; - Chi cục THA dân sự; - UBND xã Đ; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà (Đã ký) Lò Văn Dần |