vanban.org

Bản án 24/2018/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 31/01/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc Duy T phạm tội Vi phạm quy định về điều khiển phƣơng tiện giao thông đƣờng bộ.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc Duy T 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 29/9/2017. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Quốc Duy T bị truy tố về tội Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia g…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc Duy T phạm tội Vi phạm quy định về điều khiển phƣơng tiện giao thông đƣờng bộ.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 202 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
——————————
Bản án số: 24/2018/HS-ST
Ngày 31-01-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Trần Thị Thắm.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Châu Hồng Nga;

2. Ông Nguyễn Chí Tâm.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngân, Thƣ ký Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Hải, Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 01 năm 2018 tại Hội trƣờng A, Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 396/2017/HSST ngày 27 tháng 12 năm 2017, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 14/2018/QĐXXST-HS ngày 19/01/2018 đối với bị cáo:

Nguyễn Quốc Duy T, sinh năm 1992 tại tỉnh B; thƣờng trú: 7/13 khu phố B, phƣờng A, thị xã D, tỉnh B; nghề nghiệp: Nhân viên; trình độ văn hoá: 9/12; tôn giáo: Không; dân tộc: Kinh; con ông Nguyễn Quốc T, sinh năm 1975 và con bà Nguyễn Thị Thu L, sinh năm 1972; bị cáo chƣa có vợ con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 29/9/2017, có mặt.

- Người bị hại: Lê Thị Thu H, sinh năm 1994 (đã chết).

Đại diện hợp pháp cho ngƣời bị hại: Ông Lê Văn Đ, sinh năm 1964 và bà Phạm Thị Thu A, sinh năm 1969; Cùng thƣờng trú: 312/31 khu phố Đ, phƣờng T, thị xã D, tỉnh B. Có mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1. Hoàng Đình P, sinh năm 1970; địa chỉ: Khu phố 1, phƣờng B, quận T, thành phố Hồ Chí Minh. Có đơn xin giải quyết vắng mặt.

2. Nguyễn Quốc TU, sinh năm 1975; địa chỉ: 7/13 khu phố B, phƣờng D, thị xã D, tỉnh B. Có mặt.

3. Lê Văn Đ, sinh năm 1964; địa chỉ: 312/31 khu phố Đ, phƣờng Tân Đ thị xã D, tỉnh B. Có mặt.

- Người làm chứng: Huỳnh Bửu C, sinh năm 1951; địa chỉ: 60/11, khu phố R, phƣờng Đ, thị xã D, tỉnh B. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Vào khoảng 14 giờ ngày 18/8/2017, Nguyễn Quốc Duy T điều khiển xe ô tô hiệu Toyota Corolla biển số 61A-158.70 màu trắng bạc (xe do T thuê của anh Hoàng Đình P) lƣu thông trên tuyến đƣờng L từ cổng xe lửa 15 về ngã tƣ Trƣờng tiểu học K. Khi đi qua cổng xe lửa 15 thì T điều khiển xe rẽ trái vào quán ăn C.L thuộc khu phố T, phƣờng A, thị xã D, tỉnh B để đậu nhờ xe. Khoảng 05 phút sau, T điều khiển xe Toyota Corolla biển số 61A-158.70 đi lùi từ cổng quán C.L ra đƣờng L lƣu thông ngƣợc chiều khoảng 20m theo hƣớng ngã tƣ Trƣờng tiểu học K về hƣớng cổng xe lửa 15, đồng thời bật đèn tín hiệu xi nhan bên phải chuyển hƣớng qua đƣờng đƣợc khoảng 02m so với lề đƣờng bên trái (khoảng giữa phần đƣờng ngƣợc chiều) thì đầu xe ô tô của T đụng trực tiếp vào bánh trƣớc bên phải xe mô tô hiệu Honda Future biển số 61N9-2889 do chị Lê Thị Thu H điều khiển lƣu thông đúng phần đƣờng của xe hai bánh hƣớng ngƣợc lại làm xe mô tô 61N9-2889 và chị H ngã xuống đƣờng thì bị xe ô tô do T điều khiển cán qua xe mô tô và ngƣời chị H dẫn đến tai nạn giao thông. Sau khi gây tai nạn giao thông T điều khiển xe ô tô biển số 61A-158.70 chạy khỏi nơi xảy ra tai nạn, không cứu giúp ngƣời và không đƣa chị H đi cấp cứu tại bệnh viện mà điều khiển xe đi về nhà bà ngoại tại ấp M, xã P, huyện C, Thành phố H ngủ qua đêm. Đến 14 giờ ngày 19/8/2017, đƣợc ngƣời nhà vận động nên T đã điều khiển xe ô tô biển số 61A-158.70 đến Công an thị xã D giao nộp phƣơng tiện, qua xác minh đã xác định T là ngƣời điều khiển xe ô tô gây tai nạn cho chị Lê Thị Thu H. Ngày 29/9/2017 T bị bắt giam cho đến nay.

Hậu quả: Vụ tai nạn giao thông xảy ra vào ngày 18/8/2017 làm chị Lê Thị Thu H chết khi cấp cứu tại bệnh viện đa khoa tỉnh B, xe ô tô hiệu Toyota Corolla biển số 61A-158.70 và xe mô tô biển số 61N9-2889 bị hƣ hỏng.

Kết luận giám định pháp y tử thi số 691/GĐPY ngày 24/8/2017 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh B kết luận nguyên nhân tử vong của chị Lê Thị Thu H là do đa chấn thƣơng, dập rách 2 phổi, vỡ gan.

Tại bản kết luận giám định số 07/2017/KLGĐ-VTPT ngày 15/11/2017 của Sở giao thông vận tải B kết luận hệ thống phanh, hệ thống lái của xe ô tô hiệu Toyota Corolla biển số 61A-158.70 (màu trắng bạc) trƣớc và sau tai nạn đảm bảo an toàn kỹ thuật theo qui định.

Ngày 24/10/2017 Cơ quan cảnh sát điều tra công an thị xã D đã trƣng cầu Hội đồng định giá thị xã D định giá trị giá tài sản bị hƣ hỏng cần sửa chữa, thay mới của xe ô tô hiệu Toyota Corolla biển số 61A-158.70 có giá trị 48.565.000 đồng (theo kết luận định giá tài sản số 305/BB.ĐG ngày 08/11/2017).

Về khám nghiệm hiện trƣờng tai nạn thể hiện:

+ Hiện trƣờng không còn nguyên vẹn, xe ô tô biển số 61A-158.70 gây tai nạn đã bỏ chạy, nạn nhân đã đƣợc đƣa đi cấp cứu, địa điểm xảy ra tai nạn là đoạn đƣờng cong, mặt đƣờng rải nhựa bằng phẳng đƣợc chia thành hai phần đƣờng xe chạy bằng vạch kẻ đƣờng màu trắng liền nét. Phần đƣờng bên phải theo hƣớng ngã ba ngân hàng đi hƣớng ngã tƣ Đ rộng 5.2m, phần đƣờng còn lại rộng 4.60m (lấy cột điện kí hiệu số 5 làm điểm mốc, lấy mép đƣờng bên phải theo hƣớng ngã tƣ Đ đi ngã ba ngân hàng làm chuẩn để đo).

+ Hiện trƣờng để lại của xe mô tô biển số 61N9-2889 sau tai nạn thể hiện: xe ngã về bên hông phải, đầu xe hƣớng về ngã tƣ Đ, trục bánh trƣớc cách lề chuẩn là 2.60m, trục bánh sau cách lề chuẩn là 2.40m, xe ngã để lại vết cày cong dài 2.80m, đầu vết cày hƣớng ngã ba ngân hàng cách lề 2.75m, đuôi vết cày nằm ngang đầu gác chân trƣớc bên phải, vết cày đứt quãng (ký hiệu a2); vết cày (ký hiệu 2b) đứt quãng dài 2.80m cùng hƣớng với vết cày 2a, đầu vết cày cách lề 3.10m, đuôi vết cày nằm ngang đầu tay cầm bên phải. Tại hiện trƣờng có vết đất nằm rải rác dài 19.60m, điểm đầu vết đất nằm cách lề 2.60m và cách đầu vết cày 2a là 5.50m, điểm cuối của vết đất nằm cách lề 6.30m. Trục bánh sau xe mô tô cách mốc cột điện là 11.30m.

Quá trình điều tra Nguyễn Quốc Duy T thừa nhận việc bị cáo điều khiển xe ô tô biển số 61A-158.70 đi không đúng làn đƣờng qui định, lƣu thông ngƣợc chiều hƣớng từ lề trái sang lề phải đƣờng L theo hƣớng cổng xe lửa 15 về hƣớng ngã tƣ trƣờng tiểu học K, không nhƣờng đƣờng cho các xe đi ngƣợc chiều gây trở ngại cho ngƣời và phƣờng tiện khác. Sau khi gây tai nạn giao thông do hoảng sợ nên bị cáo điều khiển xe bỏ chạy khỏi hiện trƣờng gây tai nạn, không cứu giúp ngƣời bị nạn theo qui định. Hậu quả vụ tai nạn làm chị Lê Thị Thu H tử vong.

Về trách nhiệm dân sự: bị cáo T và gia đình đã thỏa thuận bồi thƣờng xong cho phía gia đình ngƣời bị hại chi phí cứu chữa ngƣời bị hại, tiền mai táng phí, tiền tổn thất tinh thần…và chi phí sửa chữa xe mô tô số 61N9-2889 với tổng số tiền là 160.000.000 đồng. Tại phiên tòa, đại diện hợp pháp của ngƣời bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thƣờng thêm khoản tiền nào khác. Bị cáo và gia đình đã bồi thƣờng chi phí sửa xe ô tô biển số 61A-158.70 cho anh Hoàng Đình P với số tiền 20.000.000 đồng. Tại bản tự khai ngày 24/01/2018, anh P xác định không yêu cầu bị cáo bồi thƣờng thêm khoản tiền nào khác.

Tại phiên tòa, đại diện hợp pháp của ngƣời bị hại xin giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo.

Đối với xe mô tô biển số 61N9-2889, quá trình điều tra cơ quan cảnh sát điều tra công an thị xã D đã trả lại cho cha mẹ chị H.

Tại Cáo trạng số 20/QĐ/KSĐT ngày 26/12/2017, Viện Kiểm sát nhân dân thị xã D, tỉnh B truy tố bị cáo Nguyễn Quốc Duy T về tội Vi phạm quy định về điều khiển phƣơng tiện giao thông đƣờng bộ theo quy định điểm c khoản 2 Điều 202 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 (nay là điểm c khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện Kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố theo toàn bộ nội dung cáo trạng đã nêu. Sau khi phân tích tính chất và hậu quả của vụ án đối với ngƣời bị hại và xã hội, đề nghị Hội đồng xét xử vận dụng các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo nhƣ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo; bị cáo đã tự nguyện bồi thƣờng, khắc phục hậu quả; ngoài ra, gia đình bị cáo cũng đã tự nguyện bồi thƣờng, khắc phục hậu quả cho gia đình ngƣời bị hại và ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; đại diện hợp pháp của ngƣời bị hại có ý kiến xin giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo. Về nhân thân: Bị cáo chƣa có tiền án, tiền sự. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 2 Điều 202; điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Tân mức án từ 04 năm đến 05 năm tù. Về trách nhiệm dân sự: Đại diện hợp pháp ngƣời bị hại và ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì khác, nên không đặt ra.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa: Bị cáo T không có ý kiến khiếu nại về thủ tục khám nghiệm hiện trƣờng vụ tai nạn giao thông, việc khám nghiệm các xe liên quan đến tai nạn và kết luận giám định pháp y tử thi số 691/GĐPY ngày 24/8/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh B. Tại phiên tòa, bị cáo, đại diện hợp pháp ngƣời bị hại, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, đại diện Viện kiểm sát không có ý kiến tranh luận. Trƣớc khi Hội đồng xét xử vào nghị án, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy nhƣ sau:

Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã D, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, đại diện hợp pháp ngƣời bị hại, ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, ngƣời làm chứng không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung vụ án: Quá trình điều tra cũng nhƣ tại phiên toà bị cáo Nguyễn Quốc Duy T thừa nhận hành vi phạm tội của mình nhƣ nội dung Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thị xã D. Bị cáo khai nhận: Vào khoảng 14 giờ ngày 18/8/2017, bị cáo điều khiển xe ô tô hiệu Toyota Corolla biển số 61A-158.70 màu trắng bạc (xe do bị cáo thuê của anh Hoàng Đình P) lƣu thông trên tuyến đƣờng L từ cổng xe lửa 15 về ngã tƣ Trƣờng tiểu học K. Khi đi qua cổng xe lửa 15 thì bị cáo điều khiển xe rẽ trái vào trong quán ăn C.L thuộc khu phố T, phƣờng A, thị xã D, tỉnh B để đậu nhờ xe. Khoảng 05 phút sau bị cáo điều khiển xe đi lùi từ cổng quán C.L ra đƣờng L lƣu thông ngƣợc chiều khoảng 20m theo hƣớng ngã tƣ Trƣờng tiểu học K về hƣớng cổng xe lửa 15, đồng thời bật đèn tín hiệu xi nhan bên phải chuyển hƣớng qua đƣờng đƣợc khoảng 02m so với lề đƣờng bên trái (khoảng giữa phần đƣờng ngƣợc chiều) thì đầu xe của bị cáo đụng trực tiếp vào bánh trƣớc bên phải xe mô tô hiệu Honda Future biển số 61N9-2889 do Lê Thị Thu H điều khiển đang lƣu thông hƣớng ngƣợc lại làm xe mô tô 61N9-2889 và chị H ngã xuống đƣờng thì bị xe ô tô do bị cáo điều khiển cán qua xe mô tô và ngƣời chị H dẫn đến tai nạn giao thông làm chị H bị tử vong.

Luật giao thông đƣờng bộ năm 2015 quy định:

Khoản 1 Điều 9 Quy tắc chung:

1. Người tham gia giao thông phải đi bên phải theo chiều đi của mình, đi đúng làn đường, phần đường qui định và phải chấp hành hệ thống báo hiệu đường bộ.

…….

Khoản 2 Điều 15: Chuyển hƣớng xe:

Trong khi chuyển hướng, người lái xe, người điều khiển xe máy chuyên dùng phải nhường quyền đi trước cho người đi bộ, người đi xe đạp đang đi trên phần đường dành riêng cho họ, nhường đường cho các xe đi ngược chiều và chỉ cho xe chuyển hướng khi quan sát thấy không gây trở ngại hoặc nguy hiểm cho người hoặc phương tiện khác.

Điều 202 .Tội vi phạm quy định về điều khiển phƣơng tiện giao thông đƣờng bộ (Luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 quy định).

1.Người nào điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khỏe, tài sản của người khác, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

2. hạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm.

………

c gây tai nạn rồi bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn.

Nhƣ vậy, việc bị cáo Nguyễn Quốc Duy T không tuân thủ Luật giao thông đƣờng bộ cho xe chuyển hƣớng không quan sát, không nhƣờng đƣờng cho xe đi ngƣợc chiều, sau khi gây tai nạn bị cáo bỏ chạy, không cứu giúp ngƣời bị hại dẫn đến hậu quả làm một ngƣời chết, gây khó khăn cho công tác điều tra, lỗi hoàn toàn thuộc về bị cáo. Vì vậy, Viện Kiểm sát nhân dân thị xã D, tỉnh B truy tố bị cáo Nguyễn Quốc Duy T về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phƣơng tiện giao thông đƣờng bộ” theo điểm c khoản 2 Điều 202 của Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 là có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội, đúng pháp luật.

Tính chất, mức độ của hành vi: Bị cáo là ngƣời có năng lực trách nhiệm hình sự, tội phạm do bị cáo thực hiện với lỗi vô ý nhƣng thuộc trƣờng hợp rất nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự an toàn giao thông đƣờng bộ, gây thiệt hại đến tính mạng của ngƣời bị hại, đồng thời ảnh hƣởng trật tự trị an tại địa phƣơng. Do vậy, hành vi trên của bị cáo cần phải đƣợc xử lý nghiêm với mức án tù có thời hạn tƣơng xứng tính chất mức độ hậu quả gây ra. Tuy nhiên, khi lƣợng hình Hội đồng xét xử có xét đến các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo đủ để giáo dục, răn đe và phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo và gia đình đã bồi thƣờng, khắc phục hậu quả cho đại diện hợp pháp của ngƣời bị hại; quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo nhận tội, tỏ ra ăn năn hối cải. Đại diện hợp pháp ngƣời bị hại xin giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng điểm b,s khoản 1; khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Về nhân thân: Trƣớc khi phạm tội bị cáo là ngƣời lao động, có nghề nghiệp ổn định, chƣa có tiền án, tiền sự.

Quan điểm của Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã D, tỉnh B về áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và xử lý trách nhiệm dân sự là phù hợp. Riêng về mức hình phạt mà Đại diện Viện kiểm sát đề nghị xử phạt bị cáo còn cao, không phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo thực hiện, cần xử bị cáo T với mức hình phạt nhẹ hơn để tƣơng xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo thực hiện và thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.

Về án phí sơ thẩm: Bị cáo Tân phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc Duy T phạm tội Vi phạm quy định về điều khiển phƣơng tiện giao thông đƣờng bộ.

Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 202 Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009; Điểm b, s Khoản 1; khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc Duy T 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 29/9/2017.

2. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Quốc Duy T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, ngƣời đại diện hợp pháp cho ngƣời bị hại, ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc niêm yết bản án.

Cỡ chữ